Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

THÔNG CÁO BÁO CHÍ: Về công tác đấu tranh chống gian lận xuất xứ của ngành Hải quan

22/07/2019 3:00 PM

Phần I: Về công tác quản lý hải quan đối với hàng hóa giả xuất xứ C/O

I. Cơ sở pháp lý để kiểm tra, xác định xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, chuyển tải bất hợp pháp

1. Đối với lĩnh vực xuất xứ hàng hóa

a) Khoản 1, Khoản 2 Điều 27 Luật Hải quan ngày 23/6/2014 quy định thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

b) Khoản 2 Điều 35 Luật Quản lý Ngoại thương ngày 12/6/2017 quy định Bộ Tài chính có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan hải quan kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi thực hiện thủ tục hải quan theo quy định của pháp luật về hải quan;

c) Điều 29 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan quy định cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa để xác định xuất xứ hàng hóa;

d) Điều 32 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08/03/2018 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Quản lý Ngoại thương về xuất xứ hàng hóa quy định thẩm quyền của Bộ Tài chính trong việc kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa của thương nhân xuất khẩu, nhập khẩu trong quá trình làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, gửi thông tin xác minh với cơ quan cấp, thành lập đoàn kiểm tra tại nước ngoài, xây dựng văn bản pháp luật, tổ chức thực hiện quy chế, tổ chức mạng lưới thông tin, chế độ báo cáo, xây dựng và quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thực hiện công tác kiểm tra xuất xứ hàng hóa xuất khẩu và hàng hóa nhập khẩu;

đ) Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; được sửa đổi bổ sung tại Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018;

e) Thông tư số 38/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quy định thẩm quyền xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của cơ quan hải quan và các văn bản có liên quan khác;

f) Các văn bản nội luật hóa quy tắc xuất xứ theo các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

2. Đối với lĩnh vực ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

a) Luật Hải quan ngày 23/6/2014 (từ Điều 73-76);

b) Luật Sở hữu trí tuệ ngày 29/6/2009;

c) Nghị định số 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ; Nghị định số 119/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 105/2006/NĐ-CP;

d) Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/4/2017 của Chính phủ quy định về nhãn hàng hóa;

đ) Thông tư số 13/2015/TT-BTC ngày 30/1/2015 của Bộ Tài chính quy định về kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, kiểm soát hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

3. Đối với lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính

a) Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng;

b) Nghị định số 99/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;

c) Nghị định số 131/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan;

d) Nghị định số 127/2013/ NĐ-CP ngày 15/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan; Nghị định số 45/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 127/2013/ NĐ-CP.

Căn cứ các quy định dẫn trên, cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa để áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt theo đúng các cam kết quốc tế về ưu đãi thuế quan, thực hiện quản lý ghi nhãn hàng hóa, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu; ngăn chặn hành vi gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa không đúng quy định, chuyển tải bất hợp pháp trong quá trình làm thủ tục hải quan và khi thanh tra, kiểm tra sau thông quan.

II. Các phương thức, thủ đoạn gian lận, giả mạo xuất xứ

Qua công tác kiểm tra, giám sát, quản lý khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và kiểm tra sau thông quan, thanh tra của cơ quan hải quan đã phát hiện các phương thức, thủ đoạn gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, cụ thể như sau:

1. Đối với ghi nhãn hàng hóa, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ:

a) Hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài khi nhập khẩu về Việt Nam đã  ghi sẵn dòng chữ “Made in Vietnam”, “sản xuất tại Việt Nam”, “xuất xứ Việt Nam”… hoặc trên sản phẩm và/hoặc bao bì sản phẩm, phiếu bảo hành thể hiện bằng tiếng Việt các thông tin về nhãn hiệu, địa chỉ trụ sở doanh nghiệp, trang web, trung tâm bảo hành tại Việt Nam để tiêu thụ nội địa hoặc xuất khẩu;

b) Hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, dán nhãn hàng hóa hoặc ghi xuất xứ hàng hóa được sản xuất tại nước ngoài hoặc không thể hiện nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa nhưng khi đưa ra lưu thông, tiêu thụ nội địa thì doanh nghiệp thay nhãn mới ghi “Made in Vietnam” hoặc “sản xuất tại Việt Nam” hoặc “xuất xứ Việt Nam”…;

c) Lợi dụng văn bản quy phạm pháp luật chưa bắt buộc dán nhãn phụ ngay tại khâu thông quan để nhập khẩu các mặt hàng có thương hiệu nổi tiếng sau đó không dán nhãn phụ theo quy định mà thay đổi nhãn mác, bao bì, tên thương hiệu để tiêu thụ nội địa;

d) Nhập khẩu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu đã được đăng ký bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ;

đ) Lợi dụng loại hình quá cảnh để vận chuyển hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, giả mạo xuất xứ Việt Nam.

2. Đối với xuất xứ hàng hóa:

a) Doanh nghiệp Việt Nam (bao gồm cả doanh nghiệp FDI) nhập khẩu nguyên vật liệu, bán thành phẩm, linh kiện, cụm linh kiện, phụ tùng để sản xuất, gia công, lắp ráp nhưng hàng hóa không trải qua công đoạn gia công, sản xuất hoặc chỉ trải qua công đoạn gia công, sản xuất, lắp ráp đơn giản không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định nhưng khi xuất khẩu khai xuất xứ Việt Nam trên nhãn hàng hóa hoặc hợp thức hóa bộ hồ sơ để xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ của Việt Nam;

b) Thành lập nhiều công ty, mỗi công ty nhập khẩu một số cụm linh kiện, phụ tùng hoặc bộ phận tháo rời để lắp ráp hoặc bán cho công ty khác thực hiện gia công, lắp ráp công đoạn đơn giản không đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định nhưng ghi sản xuất tại Việt Nam hoặc xuất xứ Việt Nam để tiêu thụ tại thị trường trong nước nhằm đánh lừa người tiêu dùng hoặc xuất khẩu;

c) Hàng hóa có xuất xứ từ nước ngoài chuyển tải qua Việt Nam để hợp thức hóa hồ sơ hoặc xin cấp giấy chứng nhận xuất xứ sau đó xuất khẩu sang nước thứ ba;

d) Sử dụng C/O giả hoặc C/O không hợp lệ, khai sai xuất xứ hàng hóa để được áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định thương mại tự do khi làm thủ tục hải quan.

III. Một số công việc chính đang được Bộ Tài chính chỉ đạo thực hiện

1. Trước diễn biến khó lường của cuộc chiến tranh thương mại giữa các nước lớn, để phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ nước ngoài trung chuyển qua Việt Nam gian lận, giả mạo xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu hoặc tiêu thụ tại thị trường nội địa gây thiệt hại cho người tiêu dùng, Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Hải xây dựng văn bản chỉ đạo chung cho các Cục Hải quan tỉnh, thành phố và các đơn vị có liên quan trong Tổng cục nhằm tăng cường chống gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, ghi nhãn hàng hóa. Trong đó quy định cụ thể trách nhiệm, sự phối hợp của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục Hải quan trong việc thu thập, phân tích thông tin, xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao nghi vấn gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp; trách nhiệm của Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

 Tổng cục Hải quan ban hành công văn hướng dẫn các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục, Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện kiểm tra, xác định xuất xứ, chống gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, ghi nhãn hàng hóa. Cụ thể là: Tổng cục Hải quan đã ban hành văn bản tăng cường công tác kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa đối với mặt hàng gỗ dán có xuất xứ từ Trung Quốc tại công văn số 498/TCHQ-GSQL ngày 26/12/2018; mặt hàng xe đạp, xe đạp điện và các linh kiện tại công văn số 233/TCHQ-GSQL ngày 24/5/2019; tăng cường công tác kiểm tra xuất xứ đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng trên nhãn hàng hóa thể hiện “Made in Vietnam” tại công văn số 3083/TCHQ-GSQL ngày 20/5/2019; tăng cường kiểm tra hoạt động tạm nhập, tái xuất tại công văn số 4307/TCHQ-GSQL ngày 28/6/2019. Đồng thời xem xét chuyển luồng kiểm tra thực tế hàng hóa đối với nhóm mặt hàng này để kiểm soát chặt chẽ xuất xứ hàng hóa.

2. Tham gia các Đề án chống gian lận xuất xứ do Bộ Công Thương soạn thảo:

Căn cứ nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 32 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP, Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) đã nhiều lần tham gia ý kiến đối với dự thảo (i) Đề án chống gian lận xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu và (ii) Đề án tăng cường quản lý Nhà nước về lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và chống gian lận xuất xứ (công văn số 6683/TCHQ-GSQL ngày 15/11/2018, công văn số 225/BTC-HTQT ngày 06/3/2019, công văn số 658/BTC-HTQT ngày 12/6/2019).

 Hiện tại, Đề án tăng cường quản lý Nhà nước về lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại và chống gian lận xuất xứ đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 824/QĐ-TTg ngày 04/7/2019 của Chính phủ, Tổng cục Hải quan đang dự thảo Kế hoạch triển khai của Bộ Tài chính để trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt.

Tại Quyết định dẫn trên và Phụ lục đính kèm, Bộ Tài chính chủ trì 6/30 đầu việc và phối hợp triển khai 21/30 đầu việc. Trong 6 nhiệm vụ chủ trì thì 5/6 nhiệm vụ sẽ do Tổng cục Hải quan chủ trì gồm:

- Theo dõi số liệu nhập khẩu, xuất khẩu các mặt hàng thuộc Danh sách để hàng tháng cung cấp thông tin cho Bộ Công Thương, đặc biệt lưu ý hiện tượng kim ngạch xuất nhập khẩu biến động bất thường;

- Phối hợp với các Bộ, ngành kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu khi có nghi ngờ gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp;

- Tăng cường hợp tác với hải quan các nước, các tổ chức khu vực, quốc tế để hợp tác trao đổi thông tin và xác minh các gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp, chống lẩn tránh các biện pháp phòng vệ thương mại;

- Tăng cường năng lực cho cán bộ hải quan trong công tác kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

- Phối hợp với các Bộ, cơ quan quản lý chuyên ngành trong các vụ việc cụ thể;

3. Đang tiến hành điều tra, xác minh một số doanh nghiệp và mặt hàng có nghi ngờ gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp dựa trên các nguồn thông tin nghiệp vụ.

Phần II: Về công tác phòng, chống buôn lậu, gian lận xuất xứ (C/O),

chuyển tải bất hợp pháp trong địa bàn hoạt động hải quan

 

Hiện nay các nước trong khu vực và trên thế giới đã có những chính sách thay đổi lớn như tăng thuế, áp dụng hàng rào kỹ thuật để bảo hộ sản xuất trong nước, trong hoạt động thương mại, đặc biệt các cuộc chiến tranh thương mại Mỹ -Trung, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc…. có tác động rất lớn đến nền kinh tế của Việt Nam. Mặt khác Việt Nam đã và đang chịu tác động bởi các Hiệp định thương mai tự do FTA, do đó hàng hóa từ các nước bị áp thuế suất cao có khả năng sẽ tìm cách chuyển tải bất hợp pháp vào Việt Nam, giả mạo hợp thức hóa xuất xứ Việt Nam sau đó xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản,…để lẩn tránh mức thuế suất cao do các nước này áp dụng. Hành vi này dẫn đến nguy cơ hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị các nước điều tra, áp thuế chống bán phá giá, thuế tự vệ, thuế trợ cấp ở mức rất cao, gây thiệt hại cho các nhà sản xuất Việt Nam, mất uy tín trên thị trường quốc tế hoặc bị hạn chế xuất khẩu vào các thị trường này nếu bị nước nhập khẩu phát hiện và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

Trước tình hình diễn biến trên, vai trò quản lý, giám sát, kiểm soát của cơ quan hải quan theo luật Hải quan là rất quan trọng nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn các hành vi gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp, bảo vệ các nhà sản xuất Việt Nam, thu hút dịch chuyển luồng đầu tư vào Việt Nam sản xuất sản phẩm xuất khẩu đáp ứng tiêu chí xuất xứ Việt Nam, nâng cao tính tuân thủ pháp luật cho các doanh nghiệp về các biện pháp phòng vệ thương mại.

1. Đánh giá tình hình xuất nhập khẩu vào thị trường Hoa kỳ, Châu Âu.

1.1. Hoa Kỳ:

a) Trị giá hàng hóa xuất khẩu:

Kết thúc năm 2018, trị giá xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 47,53 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm 2017.

Trong 5 tháng đầu năm 2019, trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt 22,72 tỷ USD, tăng cao tới 29% so với năm 2018.

Hoa Kỳ vẫn tiếp tục duy trì vị thế là thị trường lớn nhất mà các doanh nghiệp tại Việt Nam xuất khẩu hàng hóa.

Với kết quả hoạt động xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm 2019, trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng 22,5% trong tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam với tất cả các thị trường trên thế giới.

b) Nhóm mặt hàng xuất khẩu lớn nhất vào Hoa Kỳ:

Xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 22,72 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng mạnh nhất là các nhóm hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 3,77 tỷ USD, tăng 92%; máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện đạt 1,79 tỷ USD, tăng 72%; máy móc, thiết bị dụng cụ & phụ tùng đạt 1,69 tỷ USD, tăng 54%; gỗ & sản phẩm gỗ đạt 1,84 tỷ USD, tăng 35%; giày dép các loại đạt 2,61 tỷ USD, tăng 13%; hàng dệt may đạt 5,7 tỷ USD, tăng 11%.

Với mức tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ lên đến 29% trong 5 tháng đầu năm 2019 so với cùng kỳ năm 2018, dự báo xu hướng xuất khẩu vào thị trường này còn tăng mạnh trong những tháng cuối năm. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cao dễ dẫn đến nguy cơ hàng hóa Việt Nam bị Hoa Kỳ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nếu phát hiện có dấu hiệu gian lận xuất xứ.

Nhận định:

- Việc Việt Nam ra nhập nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ cũ và mới CPTPP, VEFTA cũng như chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, Hàn Quốc – UE, Nhật Bản, Hàn Quốc sẽ đặt ra thách thức rất lớn cho công tác quản lý hải quan đối với vấn đề C/O đặc biệt là C/O hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu đi các thị trường này để hưởng ưu đãi thuế quan trong khi Trung Quốc và Việt Nam hiện có các khu thương mại xuyên biên giới với những hàng hóa Trung Quốc sản xuất tại đây có thể mang nhãn xuất xứ từ Việt Nam và từ đó tránh được các loại thuế vào Mỹ và EU. Bên cạnh đó việc thực thi IPR tại Việt Nam từ quy định pháp luật đến thực tiến còn rất nhiều hạn chế dẫn tới nguy cơ hàng hóa gian lận xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đi Mỹ, EU và thị trường các nước đối tác FTA là không thể tránh khỏi, gây thất thu thuế và cạnh trạnh không lành mạnh hoặc các nước sẽ áp dụng chính sách thuế tự vệ cho hàng hóa hợp pháp của Việt Nam.

1.2. Châu Âu:

a) Trị giá hàng hóa xuất khẩu:

- Trị giá xuất khẩu sang Châu Âu năm 2018 đạt 41,91 tỷ USD, tăng 9,5% so với năm 2017.

- 05 tháng đầu năm 2019 trị giá xuất khẩu đạt 17,01 tỷ USD, tăng 0,6 % so với cùng kỳ năm 2018.

b) Nhóm mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất vào Châu Âu:

Điện thoại các loại và các linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; giày dép các loại; hàng dệt may, da giày; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác; cà phê; hàng thủy sản; phương tiện vận tải và phụ tùng; túi xách, ví, vali, mũ, ô dù; gỗ và các sản phẩm từ gỗ; hạt điều.

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ tài chính, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục Điều tra chống buôn lậu đã tiến hành rà soát kim ngạch xuất khẩu gỗ ván ép HS4412 từ Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, thời điểm từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2019. Qua thống kê cho thấy có 90 Công ty thực hiện xuất khẩu gỗ ván ép HS4412 từ Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. Tổng kim ngạch xuất khẩu từ tháng 1/2018 đến tháng 3/2019 đạt hơn 200 triệu USD, tập trung chủ yếu với số lượng xuất khẩu lớn từ tháng 8/2018 đến tháng 01/2019. Nổi lên trong đó một số doanh nghiệp có chủ sở hữu là người Trung Quốc hoặc góp vốn với người Trung Quốc và một số doanh nghiệp khác có dấu hiệu xuất khẩu tăng đột biến.

2. Kết quả công tác kiểm tra, kiểm soát C/O theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Hải quan Việt Nam.

2.1. Việc phối hợp giữa Hải quan Việt Nam với Hải quan các nước  trong việc trao đổi thông tin, xác minh về việc gian lận xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp.

Từ năm 2016 đến tháng 6 năm 2019, Hải quan các nước đã gửi 286 yêu cầu xác minh liên quan đến nguồn gốc xuất xứ đối với các lô hàng nhập khẩu từ Việt Nam, chủ yếu là Hải quan Đài Loan (274 yêu cầu) tập trung vào các mặt hàng nông sản như nấm, hành, măng.

 Hải quan Việt Nam đã gửi 13 yêu cầu xác minh nguồn gốc xuất xứ liên quan đến mặt hàng nhôm, nông sản.

Qua công tác xác minh liên quan tới nội dung nghi vấn gian lận C/O, Cục Điều tra chống buôn lậu có một số đánh giá sau:

- Đối với nhóm hàng hóa xuất đi Đài Loan chủ yếu là hàng nông sản, đá hoa (kết quả xác minh trên CSDL cho thấy hầu hết các lô hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua chưa phát hiện sai phạm, thông tin hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam trùng khớp với thông tin khai báo nhập khẩu phía Đài Loan, tuy nhiên phía Hải quan Đài Loan vẫn tiếp tục có nhiều yêu cầu xác minh thông tin xuất khẩu đặc biệt là xác minh xuất xứ của các nhóm hàng hóa này là do phía Đài Loan có nghi vấn về khả năng hàng hóa này không phải xuất xứ Việt Nam mà xuất xứ từ nước thứ 3 (chủ yếu là Trung Quốc) nên sau khi có kết quả xác minh của phía Hải quan Việt Nam các lô hàng xuất khẩu từ Việt Nam mới có thể thông quan.

- Hiện nay một số lô hàng quá cảnh đi từ Việt Nam được cấp “giấy chứng nhận hàng xuất khẩu đi từ Việt Nam” không phải là Giấy chứng nhận xuất xứ C/O (Certificate of Origin) nhưng khi đến nước nhập khẩu thì giấy chứng nhận này được chủ lô hàng quá cảnh giải thích là giấy chứng nhận xuất xứ Việt Nam để thực hiện hành vi gian lận.

- Do cơ quan hải quan không phải là cơ quan phát hành C/O chứng nhận cho các lô hàng xuất khẩu nên trong quá trình xác minh thường sẽ phải phối hợp với các cơ quan chức năng khác của Việt Nam để làm rõ đó là phối hợp với Bộ Công thương (về các C/O ưu đãi) và VCCI (đối với C/O thông thường). Việc xác minh và xác định tỷ trọng và tỷ lệ hàng hóa để đạt xuất xứ Việt Nam là một vấn đề khó đối với cơ quan hải quan nếu như không có chỉ dẫn rõ ràng từ các cơ quan chức năng. Thực tế đã có những loại hàng hóa (pin năng lượng mặt trời) chỉ cần một tỷ lệ rất nhỏ cấu phần của sản phẩm được sản xuất ở Việt Nam là đã được xác nhận có C/O của Việt Nam. Do vậy Hải quan Việt Nam đã rất coi trọng và xác định đây là một trong những ưu tiên trong hợp tác về kiểm soát hải quan giữa Hải quan Việt Nam và Hải quan các nước trong thời gian tới

2.2. Một số vụ việc điển hình do cơ quan Hải quan đã kiểm tra phát hiện đối tượng vi phạm:

2.2.1 Một số vụ nhập khẩu hàng hóa có dấu hiệu gian lận, giả mạo xuất xứ Việt Nam.

Cục Điều tra chống buôn lậu, Cục Hải quan một số tỉnh, thành phố đã phát hiện và xử lý một số vụ việc nhập khẩu hàng hóa gian lận, giả mạo xuất xứ  Việt Nam, điển hình như sau:

- Năm 2016, cơ quan hải quan kiểm tra thực tế lô hàng đèn led nhập khẩu từ của một Công ty phát hiện 18 bộ phụ kiện đèn led, 1030 đèn led được sản xuất tại Trung Quốc nhưng trên bao bì ghi rõ xuất xứ Việt Nam.

- Năm 2017: Cơ quan Hải quan phát hiện:

+ Một Công ty nhập khẩu mặt hàng theo khai báo là “Củ loa, sạc điện thoại mới, xuất xứ Trung Quốc” có xuất trình C/O mẫu E nhưng khi kiểm tra thực tế thì trên hộp đựng sản phẩm hàng hóa và trên hàng hóa thể hiện chữ đúc chìm trên sản phẩm có in chữ “Made in Vietnam”.

+ Một Công ty nhập khẩu mặt hàng “Băng keo lưới bằng sợi thủy tinh dùng trong xây dựng, xuất xứ Trung Quốc”, có C/O mẫu E. Khi kiểm tra thực tế hàng hóa, phát hiện nhãn hàng hóa trên bao bì trực tiếp và bao bì chứa đựng hàng hóa thể hiện nơi sản xuất của hàng hóa là Việt Nam (“Made in Vietnam”).

+ Một Công ty nhập khẩu 2000 chiếc nồi cơm từ Trung Quốc nhưng trên nhãn hàng hóa thể hiện xuất xứ Việt Nam.

+ Công ty Cổ phần XNK Hiếu Nghĩa nhập khẩu từ Trung Quốc: 1.600 đôi giầy trên sản phẩm ghi nhãn hiệu “Made in Vietnam”.

+ Công ty có vốn đầu tư nước ngoài, trụ sở tại KCN Nhơn Trạch 3 có hành vi giả mạo xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đi Mỹ. Theo kết quả điều tra thì Công ty này không sản xuất tại Việt Nam mà chỉ nhập khẩu hợp chất xử lý nước từ Trung Quốc sau đó thay nhãn mác xuất xứ Trung Quốc bằng nhãn mác ghi xuất xứ Việt Nam trên lô hàng để xuất khẩu.

-        Năm 2018: Cơ quan Hải quan phát hiện.

+ Công ty TNHH MTV Thương mại tổng hợp Bảo Tiến An nhập khẩu từ Trung Quốc 3.300 bộ khóa mang nhãn hiệu Khóa Việt Tiệp, 1.560 van bếp ga đã dán tem kiểm nghiệm của Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Minh Việt Nam.

+ Công ty TNHH XNK Trần Vượng: Trong tờ khai hải quan có khai báo là Loa kết hợp với máy ghi và tái tạo âm thanh, hàng mới 100% có xuất xứ Trung Quốc, trị giá hàng hóa ghi trên theo khai là 10.217 USD tương đương 238.880.655đ. Tuy nhiên khi cơ quan hải quan kiểm tra hàng hóa thì phát hiện có 600 loa thùng kéo và 1.200 micro. Trên thùng carton và mocro có ghi tiếng Việt, nội dung: Loa NANOMAX; Công ty cổ phần xây dựng và điện tử Sơn Tùng, trụ sở Quận Tân Phú – thành phố Hồ Chí Minh; Made in Việt Nam. Công ty đã khai báo sai về tên hàng, công suất, số lượng, nhãn hiệu, xuất xứ hàng hóa. Hiện đang đề nghị khởi tố vụ án hình sự.

+ Công ty TNHH MTV XNK Thành Quý và Công ty TNHH Thương mại Aeolus Henan, đã nhập khẩu hàng hóa từ Trung Quốc về, qua kiểm tra phát hiện 2.880 bút bi ghi nhãn hiệu Thiên Long, 438 bộ tay nắm khóa cửa Huy Hoàng, 287 dòng hàng không khai báo hải quan nghi vấn hàng giả nhãn mác. Hiện nay   đã khởi tố vụ án hình sự và chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.

+ Công ty TNHH H.T (thành phố Hồ Chí Minh) khai báo nhập 6 container gạch ốp lát không tráng men, mới 100%, xuất xứ Trung Quốc. Qua kiểm tra phát hiện trên bao bì sản phẩm thể hiện chữ “ Made in Viet Nam” nhãn hiệu ROYALGRESPORCELANTATO, sản xuất tại khu công nghiệp Mỹ Xuân A, huyện Tân Thành tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

+ Kiểm tra, phát hiện 4 xe tải vận chuyển 1 lô hàng lớn từ biên giới phía bắc vào Việt Nam tiêu thụ, hàng hóa ước tính khoảng 100 tấn gồm quần  áo, phụ tùng xe máy, xe đạp điện, điện gia dụng, toàn bộ hàng hóa đều có xuất xứ Trung Quốc, nhưng nhiều sản phẩm gắn mác sản xuất tại Việt Nam, thậm chí có sản phẩm còn ghi rõ là sản xuất tại quận Hà Đông (Hà Nội) với hạn bảo hành 1 năm, có chứng nhận quy chuẩn, hàng Việt Nam chất lượng cao.

+  Xác minh làm rõ nghi vấn việc đưa hơn 1 triệu tấn nhôm hình, có C/O Trung Quốc gửi hàng kho Ngoại quan ở tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

* Nhờ có sự chủ động, quyết liệt của cơ quan Hải quan đã ngăn chặn, cảnh báo nguy cơ lợi dụng C/O Việt Nam để xuất hàng có C/O từ nước ngoài qua Việt Nam đi nước thứ 3.

2.2.2. Các vụ việc xuất khẩu hàng hóa nghi gian lận C/O hiện đang tiến hành điều tra, xác minh:

Trên cơ sở số liệu rà soát và thông tin nắm được về các hành vi vi phạm của các Công ty trong việc sản xuất mặt hàng gỗ dán xuất khẩu, Cục Điều tra chống buôn lậu và các đơn vị liên quan lập kế hoạch, xác minh thông tin liên quan đến các hoạt động sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gỗ dán, tấm gỗ dán veneer và các loại gỗ ghép của 06 Công ty có sản lượng gỗ sản xuất, xuất khẩu lớn, có dấu hiệu tăng đột biến.

2.2.2.1. Kết quả điều tra, xác minh vụ việc.

a) Công ty TNHH VT ......  (thành phố Hà Nội).

 Qua xác minh, đây là Công ty thương mại, năm 2018 đến hết tháng 3/2019, Công ty đã xuất khẩu 27.051,73 m3, các mặt hàng gỗ dán, tấm gỗ dán trị giá 405,672,807,931 ( Bốn trăm, linh năm tỷ, sáu trăm bảy mươi hai triệu, tám trăm linh bảy ngàn,chín trăm ba mốt đồng).

Công ty đã được hoàn thuế VAT: 32.514.322.920đ (Ba mươi hai tỷ năm trăm mười bốn triệu, ba trăm hai hai ngàn, chín trăm hai mươi đồng)

b) Công ty TNHH VM.......  ( tỉnh Hưng Yên)

      Từ khi thành lập tháng 1/2018 đến 31/3/2019, Công ty đã sản xuất và bán cho: Công ty TNHH VT để xuất khẩu với số lượng: 5.499,22m khối, trị giá 64.055.870.100đ. (Trong đó lô hàng sản xuất từ ván bóc được nhập khẩu từ Trung Quốc, sản xuất ra thành phẩm bán cho Công ty TNHH VV: 8.425 tấm, trị giá 3.397.150.000 đ )

        Công ty trực tiếp xuất khẩu: 79,9m khối gỗ ván ép, trị giá  935.099.800 đồng ( Chín trăm ba lăm triệu, không trăm chín chín ngàn, tám trăm đồng)

        c). Công ty Cổ phần AA ....... ( tỉnh Nam Định)

Từ khi thành lập tháng 6/2018, đến tháng 3/2019, Công ty sản xuất và bán cho Công ty TNHH VT để xuất khẩu 5.709m3 để xuất khẩu trị giá hàng hóa 60.418.607.700đ  ( Sáu mươi tỷ, bốn trăm mười tám triệu, sáu trăm linh bẩy ngàn, bảy trăm đồng chẵn )

          d). Công ty Cổ phần GR......... ( tỉnh Lạng Sơn)

 Công ty Cổ phần Gr thành lập tháng 6/2018, tính đến tháng 3/2019, Công ty đã sản xuất và bán cho Công ty TNHH VT 24.078m khối gỗ ván ép để xuất khẩu, trị giá: 112. 691.913.400 đồng (Một trăm mười hai tỷ, sáu trăm chín mốt triệu, chín trăm mười ba ngàn bốn trăm đồng chẵn)

đ). Công ty TNHH FN…….. ( tỉnh Phú Thọ)

              Công ty nhập khẩu nguyên liệu gỗ ván bóc/ ván ép bán thành phẩm từ Trung Quốc: 2.087m3 gỗ ván bóc từ cây gỗ phong trắng/ gỗ bạch dương và 28.935m3 gỗ ván ép/ gỗ dán.

Công ty xuất khẩu gỗ ván ép/ gỗ dán thành phẩm cho 07 đối tác với tổng lượng xuất khẩu là 15.542m3.

                         Công ty đã được hoàn thuế VAT: 12,050.000 đ (Mười hai tỷ không trăm năm mươi triệu đồng chẵn).

                    e). Công ty TNHH Go ……. ( thành phố Hà Nội)

          Năm 2018, Công ty TNHH Go đã mở 80 tờ khai hải quan xuất khẩu 12.600m3. trị giá trên 120 tỷ đồng, tuy nhiên Công ty không xin Giấy chứng nhận xuất xứ Việt Nam (C/O) cho các lô hàng xuất khẩu này, theo giải trình của Công ty là do đối tác mua hàng không yêu cầu cung cấp C/O. Về nội dung này Cục Điều tra chống buôn lậu đã xác minh và đang chờ trả lời của Hải quan các nước đối tác nhập khẩu gỗ của Công ty.

          2.2.2.2. Nhận xét và đánh giá:

Qua xác minh đối với 6 công ty và kết quả làm việc với các hộ dân, chính quyền một số địa phương cho thấy một số vấn đề nổi lên liên quan đến vi phạm trong việc doanh nghiệp lập hồ sơ xin cấp C/o như sau:

  Sai phạm trong việc xin cấp C/O của các doanh nghiệp.

  + Kết quả đã xác định Hồ sơ xin cấp C/O của Công ty TNHH VT, Công ty TNHH VM, Công ty Cổ phần Gr và Công ty Cổ phần AA là vi phạm quy định pháp luật:

- Các công ty trên đã thừa nhận không mua nguyên liệu gỗ bạch đàn, gỗ keo từ các hộ dân ghi trong hợp đồng.

- Các Công ty đã sử dụng hợp đồng mua bán nguyên liệu ký khống, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong một số bộ hồ sơ xin cấp C/O là giả, mục đích hợp thức hồ sơ đầu vào để làm thủ tục xin Giấy chứng nhận xuất xứ tại Việt Nam cho các lô hàng mà công ty sản xuất để bán cho Công ty khác xuất khẩu hoặc trực tiếp xuất khẩu.

- Sử dụng hóa đơn GTGT mua keo, bột mỳ dùng cho nhiều tờ khai để làm hồ sơ xin cấp C/O mà tổng số lượng keo và bột mỳ trong các tờ khai vượt quá số lượng so với số lượng keo, bột mỳ trên hóa đơn GTGT đầu vào.

- Có một số doanh nghiệp nhập khẩu ván bóc, bán thành phẩm từ Trung Quốc về để sản xuất gỗ ván bóc xuất khẩu nhưng không khai báo trong hồ sơ xin cấp C/O.

+ Đối với Công ty TNHH VT, một số hồ sơ xin cấp C/O cho các lô hàng xuất khẩu của Công ty (do các Công ty sản xuất cung cấp), có sử dụng các giấy tờ không hợp pháp, một số giấy tờ có dấu hiệu làm giả.

 Trách nhiệm chính quyền địa phương trong công tác quản lý lâm sản.

- Cục Điều tra chống buôn lậu nhận thấy có dấu hiệu buông lỏng quản lý trong xác nhận hồ sơ lâm sản. UBND một số xã không mở hồ sơ theo dõi khai thác lâm sản, không kiểm tra thực tế trước khi xác nhận hồ sơ lâm sản. Có nhiều hồ sơ lâm sản, số lô, số thửa trên bảng kê lâm sản không có trên thực tế hoặc không đúng với số lô, số thửa mà hộ dân đang trồng và khai thác rừng, cá biệt còn có trường hợp lãnh đạo UBND xã ký, đóng dấu sẵn vào một số đơn đề nghị cấp phép khai thác, Bảng kê lâm sản khai thác, Bảng kê lâm sản rồi đưa cho hộ dân về tự điền thông tin vào các giấy tờ trên.

 Việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ C/O của VCCI.

- Một số bảng kê lâm sản, bảng kê lâm sản khai thác không ghi ngày tháng, không có chữ ký của chủ rừng, chữ ký của chính quyền xã, không có chữ ký của người dân trong hợp đồng mua nguyên liệu nhưng vẫn được cấp chứng nhận C/O.

- Trong nhiều Bảng kê khai hàng hóa xuất khẩu đạt tiêu chí “CTC” có mẫu thuẫn, trùng lắp về hóa đơn, số liệu nhưng vẫn được cấp C/O. Hóa đơn nguyên liệu keo, bột mỳ, gỗ ván mặt được các công ty sử dụng nhiều lần trong các tờ khai xin C/O vượt quá số lượng keo, bột mỳ, ván mặt trong hóa đơn đầu vào để sản xuất gỗ dán xuất khẩu không được kiểm tra phát hiện.

Theo đánh giá của Cục Điều tra chống buôn lậu, việc quy định về xuất xứ theo tiêu chí chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp 6 số đối với một số trường hợp là tương đối lỏng lẻo. Cụ thể, đối với các mã hàng việc chuyển đổi mã số từ 4412.39 (nguyên liệu nhập khẩu) sang mã 4412.33/ 4412.34 chỉ cần qua công đoạn rất đơn giản. Đó là từ mã hàng 4412.39 (nhập khẩu) có thể ép chồng thêm ít nhất 01 lớp ván ép mã 4412.94 (nhập khẩu) hoặc sản phẩm có dán mặt bằng lớp ván bóc mã 4408.90/10 (nhập khẩu) hoặc dán lớp gỗ ván ép có nguồn gốc Việt Nam (không phải là gỗ thông hoặc cây lá kim) thì sản phẩm đầu ra sẽ được khai báo vào mã 4412.33/ 4412.34. Như vậy hàng hóa đã được xác định là xuất xứ Việt Nam vì đáp ứng tiêu chí chuyển đổi mã hàng hóa ở cấp 6 số (CTSH).

Việc xử lý các sai phạm.

Hiện nay Cục Điều tra chống buôn lậu vẫn đang tiếp tục xác minh làm rõ thêm tính chất, mức độ của các hành vi vi phạm để xử lý theo quy định pháp luật về C/O không trung thực, về dấu hiệu làm giả hồ sơ, giấy tờ, về dấu hiệu chiếm đoạt thuế VAT ( nếu có).

3. Phương hướng, giải pháp.

Nhằm chủ động phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi gian lận, chuyển tải bất hợp pháp hàng hóa vào Việt Nam trong đó có mặt hàng gỗ, giả mạo xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu. Tổng cục Hải quan tổ chức thực hiện các biện pháp sau:

1. Tổng cục Hải quan đã chủ động triển khai thực hiện Đề án“ Tăng cường quản lý nhà nước về chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mai và gian lận xuất xứ” theo Quyết định số 224/QĐ-TTg ngày 04/7/2019 của Thủ tướng Chính phủ:

- Xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện quy trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hàng hóa có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp trong đó quy định cụ thể trách nhiệm, sự phối hợp của các đơn vị nghiệp vụ thuộc Tổng cục trong việc thu thập, phân tích thông tin, xác định mặt hàng, doanh nghiệp có rủi ro cao nghi vấn gian lận, giả mạo xuất xứ, chuyển tải bất hợp pháp để áp dụng các biện pháp kiểm soát phù hợp; trách nhiệm của Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trong việc kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa khi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

- Hướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố tăng cường công tác kiểm tra, xác định xuất xứ hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu khi làm thủ tục hải quan nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp.

- Tăng cường quản lý, kiểm tra chặt chẽ với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc khai báo là gỗ ván mặt, ván bóc, thành phẩm và bán thành phẩm gỗ ép, gỗ dán để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi gian lận trong việc nhập khẩu hàng hóa, gian lận xuất xứ.

- Chủ động thu thập thông tin về các mặt hàng bị các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Châu Âu, Nhật Bản,.... áp dụng thuế chống bán phá giá cụ thể đối với từng nước. Thực hiện phân tích, đánh giá số liệu để kịp thời phát hiện các mặt hàng, doanh nghiệp nhập khẩu, xuất khẩu tăng đột biến các mặt hàng trùng với các mặt hàng bị áp chống bán phá giá hoặc đang điều tra...để thực hiện kiểm tra, giám sát, ngăn chặn tình trạng gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn, chuyển tải bất hợp pháp.

- Hợp tác chặt chẽ với cơ quan Hải quan các nước và Văn phòng liên lạc tình báo khu vực Châu á Thái Bình Dương để kịp thời thu thập thông tin và  phối hợp xác minh C/O có dấu hiệu gian lận

- Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để phát hiện sớm các trường hợp gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp như Bộ Công Thương (Cục quản lý cạnh tranh, Cục Xuất nhập khẩu); Bộ Kế hoạch đầu tư (Cục Đầu tư nước ngoài); Bộ Công an; Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Hiệp hội ngành hàng... nhằm xác định trọng tâm, trọng điểm các mặt hàng nhập khẩu, xuất khẩu tăng đột biến về số lượng, kim ngạch so với cùng kỳ để thực hiện kiểm tra, xác định xuất xứ.

2. Mở rộng điều tra các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu mặt hàng gỗ ván ép, gỗ dán có số lượng tăng đột biến, bên cạnh đó tiếp tục điều tra xác minh làm rõ hành vi vi phạm đối với các công ty trên để xử lý theo theo quy định pháp luật.

Tiếp tục đẩy mạnh thu thập thông tin, kiểm tra đối với các lô hàng có dấu hiệu nghi vấn giả mạo C/O, đối với 1 số mặt hàng trọng điểm có kim ngạch xuất, nhập khẩu lớn. Từ đó điều tra làm rõ và xem xét khởi tố, đề nghị khởi tố vụ án hình sự đối với các tội: Buôn lậu; Vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên giới; Sản xuất, buôn bán hàng giả; Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan..... Với các hành vi như cố ý nhập khẩu hàng giả mạo nhãn hiệu, sao lậu ở quy mô thương mại hoặc nhằm thu lợi nhuận, cố ý nhập khẩu và sử dụng nhãn, bao gói giả mạo ở quy mô thương mại hoặc nhằm thu lợi nhuận

3. Kiến nghị với Bộ Công thương, VCCI siết chặt công tác quản lý cấp giấy chứng nhận xuất xứ theo quy định tại Điều 29 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP đối với trường hợp qua kết quả kiểm tra, thanh tra xác định hành vi gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp. Chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường công tác kiểm tra sản xuất hàng hoá xuất khẩu nhất là đối với các doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá, nguyên liệu, bán thành phẩm về sản xuất thành phẩm để xuất khẩu.

4. Kiến nghị với Bộ Tài chính, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tăng cường quản lý, ngăn chặn tình trạng xác nhận khống nguyên liệu đầu vào cấu thành sản phẩm xuất khẩu nhằm ngăn chặn việc gian lận xuất xứ.

5. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền tới người dân, doanh nghiệp về hành vi, thủ đoạn, tác hại, hậu quả của gian lận thương mại đối với sản xuất trong nước, cũng như hoạt động xuất khẩu. Đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong nước cũng như bảo vệ thương hiệu hàng Việt Nam trên thị trường quốc tế./.

Liên kết
Đường dây nóng của Tổng cục Hải quan.
Liên kết tới Thống kê Hải quan
Bao Hai quan dien tu (Phien ban thu nghiem)
Nhận dạng động vật hoang dã
Truy cập mail ngành Hải quan
Diễn đàn cạnh tranh quốc gia
Số điện thoại các đường dây nóng
Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+8424) 39440833 (ext: 8613)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan