Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 3 năm 2018

Thống kê Hải quan  16/04/2018 4:00 PM

1. Đánh giá chung

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong tháng 3/2018 tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt kim ngạch 40,01 tỷ USD, tăng mạnh 41,1% so với kết quả thực hiện của tháng 2 trước đó. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa từ Việt Nam đạt 21,13 tỷ USD, tăng 47,5% so với tháng trước, nhập khẩu hàng hóa vào nước ta đạt 18,87 tỷ USD, tăng 34,5%.

Tính từ đầu năm đến hết  tháng 3 năm 2018, tổng trị giá xuất nhập khẩu cả nước đạt 108,43 tỷ USD, tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 55,56 tỷ USD, tăng 24,8% và nhập khẩu đạt 52,87 tỷ USD, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước.
 
Biểu đồ 1: Diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và cán cân thương mại theo tháng từ tháng 03/2017 đến tháng 03/2018

Bieu do 1.jpg 
 Nguồn: Tổng cục Hải quan
 
Với kết quả xuất nhập khẩu nêu trên, cán cân thương mại hàng hóa của nước trong tháng 3/2018 có mức thặng dư 2,26 tỷ USD,  qua đó làm cho cán cân thương mại hàng hóa cả nước 3 tháng từ đầu năm 2018 có thặng dư 2,69 tỷ USD.

Xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 3/2018 đạt 26,67 tỷ USD, tăng 40,8% so với tháng trước, qua đó, đưa kim ngạch xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 71,47 tỷ USD, tăng 20,8%, tương ứng tăng gần 8,8 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng này đạt 15,25 tỷ USD, tăng 46,2% so với tháng trước, qua đó đưa kim ngạch xuất khẩu của khối này trong 3 tháng từ đầu năm 2018 lên 39,76 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 3/2018 đạt 11,42 tỷ USD, tăng 34,2% so với tháng trước, đưa kim ngạch trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 31,71 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 3/2018 đạt mức thặng dư 3,83 tỷ USD, qua đó đưa cán cân thương mại trong 3 tháng từ đầu năm 2018 lên mức thặng dư 8,05 tỷ USD.

2. Hàng hóa xuất khẩu

Xuất khẩu trong quý đầu tiên của năm tiếp tục đạt mức tăng cao 24,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI tăng 27,1%. Trong Quý I/2018, có 11/46 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD, tăng 2 nhóm hàng so với cùng kỳ năm trước.
 
Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong 3 tháng từ đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước
 
Bieu do 2.jpg 
Nguồn: Tổng cục Hải quan

Điện thoại các loại và linh kiện: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 5,27 tỷ USD, tăng 55% so với tháng trước, qua đó đưa trị giá xuất khẩu của nhóm hàng này trong Quý I/2018 đạt 12,6 tỷ USD, tăng 62,3% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó xuất khẩu nhóm hàng này sang thị trường Liên minh châu Âu (EU 28 nước) đạt 3,51 tỷ USD, tăng 47,6% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu nhóm mặt hàng này sang thị trường Trung Quốc tăng đột biến 4,8 lần so với cùng kỳ năm trước, đạt trị giá 1,45 tỷ USD; sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,41 tỷ USD, tăng 128%.

Hàng dệt may: xuất khẩu hàng dệt may trong tháng đạt 2,32 tỷ USD, tăng 42,3% so với tháng trước. Qua đó, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong Quý I đạt trị giá 6,43 tỷ USD, tăng 14,9%, tương ứng tăng 831 triệu USD so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý đầu tiên năm 2018, Hoa Kỳ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam với trị giá đạt 3,04 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, và chiếm 47,3% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; tiếp theo là thị trường Nhật Bản đã tiêu thụ 855 triệu USD, tăng 20,1%; thị trường EU (28 nước) tiêu thụ 824 triệu USD, tăng 12,8%.

Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện: kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện trong tháng 3 đạt 2,25 tỷ USD, tăng 31% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng đầu năm đạt 6,33 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 3 tháng từ đầu năm 2018, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc dẫn đầu với trị giá đạt 1,74 tỷ USD, tăng 26,4%; xuất khẩu sang EU (28 nước) đạt trị giá 1,17 tỷ USD, tăng 12%; sang Hàn Quốc đạt trị giá 642 triệu USD, tăng 57,3% so với cùng kỳ năm trước .

Giày dép các loại:  xuất khẩu giầy dép các loại trong tháng 3/2018 đạt 1,19 tỷ USD, giảm 42,5% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu giày dép của cả nước trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 3,44 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu nhóm hàng này sang các thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 1,28 tỷ USD, tăng 19,5%; sang EU (28 nước) đạt trị giá 962 triệu USD, giảm 2,6%; sang thị trường Trung Quốc đạt trị giá 3207 triệu USD, tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác:  xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 3/2018 đạt 1,49 tỷ USD, tăng 51,3% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 3,69 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước.
Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong 3 tháng từ đầu năm 2018 chủ yếu gồm: Hoa Kỳ với 603 triệu USD, tăng 0,3%; sang EU đạt trị giá 530 triệu USD, tăng 43,8%; Ấn Độ với 482 triệu USD, tăng 4,8 lần.

Phương tiện vận tải và phụ tùng: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 721 triệu USD, tăng 32,5% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng đầu năm đạt 2,03 tỷ USD, tăng 18,4% so với cùng kỳ năm trước

Các thị trường nhập khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng từ Việt Nam trong 3 tháng đầu năm gồm: Nhật Bản với trị giá đạt 581 triệu USD, tăng 14,9%, sang Hoa Kỳ đạt 276 triệu USD, tăng 21,4%, sang Ấn Độ đạt trị giá 100 triệu USD, tăng 3,6 lần so với cùng kỳ năm trước.

Gỗ và sản phẩm gỗ: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 3/2018 đạt kim ngạch 725 triệu USD, tăng 65,9% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 1,94 tỷ USD, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước.

Gỗ và sản phẩm gỗ 3 tháng từ đầu năm 2018 được xuất khẩu chủ yếu đến các thi trường Hoa Kỳ với kim ngạch 766 triệu USD, tăng 10,8% so với cùng kỳ năm trước; sang Trung Quốc với 270 triệu USD, tăng 1%; sang Nhật Bản với 264 triệu USD, tăng 2,6%; …

Hàng thủy sản: trị giá xuất khẩu trong tháng là 702 triệu USD, tăng 73,4% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng đầu năm đạt 1,77 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ  năm trước.
 Trong đó, xuất khẩu sang EU(28 nước) đạt trị giá 312 triệu USD, tăng 25,8%, xuất sang Hoa Kỳ đạt 271 triệu USD, tăng 9%; sang Nhật Bản đạt 264 triệu USD, tăng 44,6% so với cùng kỳ năm trước.

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 279 triệu USD, tăng 1% so với tháng trước, đưa kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 3 tháng đầu năm 2018 đạt 1,05 tỷ USD, tăng 41,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt trị giá 504 triệu USD, tăng 14%; xuất khẩu sang Hồng Kông đạt trị giá 280 triệu USD, tăng 47,6% so với cùng kỳ năm trước.

Sắt thép các loại: lượng xuất khẩu sắt thép các loại trong tháng đạt 519 nghìn tấn, trị giá 390 triệu USD, tăng 8,9% về lượng và tăng 15,8% về trị giá. Qua đó đạt 1,43 triệu tấn, trị giá 1,04 tỷ USD, tăng 38,5% về lượng và tăng 57,3% về trị giá.

Xuất khẩu sắt thép các loại 3 tháng đầu năm chủ yếu xuất khẩu qua các thị trường Campuchia với 284 nghìn tấn, trị giá đạt 180 triệu USD, tăng 37,6% về trị giá và 59,1% về lượng, sang Hoa Kỳ với 217 nghìn tấn, trị giá 179 triệu USD, tăng 131,3% về lượng và 144,9% về trị giá; sang Indonexia đạt 186 nghìn tấn, trị giá 147 triệu USD, tăng 25,3% về lượng và tăng 37,6% so với cùng kỳ năm trước.

3. Hàng hóa nhập khẩu
Hàng hóa nhập khẩu trong đầu tiên  năm 2018 tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng xuất khẩu. Trong đó có 12/54 nhóm hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm gần 70% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước. Một số nhóm hàng đạt mức tăng mạnh như máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh; xăng dầu các loại; kim loại thường khác; điện thoại các loại và linh kiện.
 
Biểu đồ 3: Kim ngạch nhập khẩu 10 nhóm hàng lớn nhất trong 3 tháng từ đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước
 
Bieu do 3.jpg 
Nguồn: Tổng  cục Hải quan
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 3/2018 đạt trị giá 3,7 tỷ USD, tăng 22% so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này trong 3 tháng đầu năm đạt 10,42 tỷ USD, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 3 tháng từ đầu năm 2018 nhóm hàng máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện được nhập khẩu chủ yếu từ Hàn Quốc với hơn 4,66 tỷ USD, tăng 52,8% so với cùng kỳ năm trước; từ Trung Quốc với 1,55 USD, tăng 4,5%  so với cùng kỳ năm trước; 

Máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác: kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng 3/2018 đạt 2,72 tỷ USD, tăng 32,4% so với tháng trước., đưa trị giá nhập khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng đầu năm đạt 4,87 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác trong 3 tháng từ đầu năm 2018 chủ yếu được nhập từ Trung Quốc với gần 2,53 tỷ USD, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm truóc; nhập khẩu từ Hàn Quốc với 1,45 tỷ USD, giảm 27,2%; nhập khẩu  từ Nhật Bản đạt 1,05 tỷ USD, tăng 2,6% …

Điện thoại các loại và linh kiện: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 981 triệu USD, tăng 37,9% so với tháng trước, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 3,32 tỷ USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2017.

Điện thoại các loại và linh kiện chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với gần 1,96 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 1,2 tỷ USD, tăng 16,3%; …

Vải các loại: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 893 triệu USD, tăng 21,1% so với tháng trước, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này trong 3 tháng từ đầu năm 2018 đạt 2,66 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm 2017.

Vải các loại chủ yếu được nhập từ Trung Quốc với 1,39 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước;  Hàn Quốc với 492 triệu USD, tăng 11,2%; từ Đài Loan với 372 triệu USD, tăng 5%; …

Sắt thép các loại: trong tháng nhập khẩu nhóm hàng này là 1,05 triệu tấn, trị giá 745 nghìn USD, giảm 4,6% về lượng và tăng 17,8% về trị giá. Trong Quý này, lượng nhập khẩu sắt thép các loại đạt 3,12 triệu tấn, trị giá 2,18 tỷ USD, giảm 25,4% về lượng và giảm 6,9% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Sắt thép các loại trong 3 tháng từ đầu năm 2018 chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc với hơn 1,12 triệu tấn, trị giá 830 triệu USD, giảm 48,2% về lượng và giảm 28,6 về trị giá so với cùng kỳ năm trước; từ Nhật Bản với 538 nghìn tấn, trị giá 367 triệu USD, giảm 0,5% về lượng và tăng  15,2% về trị giá; từ Hàn Quốc với 428 nghìn tấn, trị giá 345 triệu USD, tăng 3,2% về lượng và 17,8% về trị giá; …

Xăng dầu các loại: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,23 triệu tấn, trị giá 784 triệu USD, tăng 16,9% về lượng và tăng 18,4% về trị giá so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu xăng dầu các loại trong 3 tháng đầu năm đạt 3,38 triệu tấn, trị giá 2,18 tỷ USD, tăng 15,7% về lượng và tăng 36,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Xăng dầu các loại nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ Malaysia với 1,12 triệu tấn trị giá 628 triệu USD, tăng 66,2% lần về lượng và 100,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước; từ Hàn Quốc với 916 nghìn tấn trị giá 628 triệu, tăng 27,1% về lượng và 36,7% về trị giá; từ Singapore với 704 nghìn tấn, trị giá 421 triệu USD, giảm 36,5% về lượng và giảm  24,5% về trị giá; …

Chất dẻo nguyên liệu: nhập khẩu trong tháng của nhóm hàng này đạt 487 nghìn tấn, trị giá 791 triệu USD, tăng 49,2% về lượng và 53,2% về trị giá so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng từ đầu năm 2018 của nhóm hàng này đạt 1,31 triệu tấn, trị giá 2,06 tỷ USD, tăng 12,6% về lượng và tăng 20,9% về trị giá so cùng kỳ năm trước.

Chất dẻo nguyên liệu nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ thị trường Hàn Quốc với 277 nghìn tấn, trị giá 386 triệu USD, tăng 2,4% về lượng và 34,6% về trị giá so với cùng kỳ năm trước; từ Ả Rập Thống Nhất với 278 nghìn tấn trị giá 274 triệu USD, tăng 12,2% về lượng và tăng 15,3% về trị giá; ….

Kim loại thường khác: nhập khẩu trong tháng đạt 190 nghìn tấn, trị giá 680 triệu USD, tăng 104,1% về lượng và tăng 68,5% về trị giá. Trong quý này, lượng nhập khẩu kim loại thường khác đạt 454 nghìn tấn, trị giá 1,68 tỷ USD, tăng 18,6% về lượng và tăng, tuy nhiên tăng 31,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước

Kim loại thường các loại nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ Hàn Quốc với 77 nghìn tấn, trị giá 233 triệu USD, giảm 3% về lượng và tăng 10,1% về trị giá; đặc biệt Mexico với 94 nghìn tấn, trị giá 175 triệu USD trong khi đó năm trước là chưa nhập khẩu, Trung Quốc với 56 nghìn trị giá 166 triệu USD, giảm 37,9% về lượng và giảm 16,6% về trị giá; …

Sản phẩm từ chất dẻo: nhập khẩu trong tháng có trị giá 482 triệu USD, tăng 33,6% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu nhóm hàng này 3 tháng đầu năm đạt 1,35 tỷ USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước.

Sản phẩm từ chất dẻo nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 474 triệu USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước; xuất xứ từ Hàn quốc với 416 triệu USD, tăng 14,1%; xuất xứ từ Nhật Bản với 191 nghìn USD, tăng 9,8%

Nguyên phụ liệu dệt may, da, giày:  nhập khẩu trong tháng đạt trị giá 491 triệu USD, tăng 56% so với tháng trước, qua đó đưa trị giá nhập khẩu trong 3 tháng đầu năm đạt trị giá 1,24 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước.

Nhập khẩu nhóm hàng này 3 tháng từ đầu năm chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với 457 triệu USD, giảm 3%; xuất xứ từ Hàn Quốc với 159 triệu USD, giảm 7,7%; xuất xứ Đài Loan với 107 triệu USD, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm trước./.
 

Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+8424) 39440833 (ext: 8613)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan