Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 4 và 4 tháng/2019

Thống kê Hải quan  15/05/2019 5:00 PM
Untitled 1

1. Đánh giá chung

Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong tháng 4/2019, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước trong tháng 4/2019 đạt gần 41,43 tỷ USD, giảm 5,7% so với tháng trước. Tháng 4/2019, trị giá xuất khẩu, nhập khẩu đều giảm so với tháng trước do đợt nghỉ lễ giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 và 30/4 nằm trọn trong tháng, trong đó xuất khẩu đạt 20,44 tỷ USD, giảm 10,3% so với tháng trước (tương ứng giảm 2,34 tỷ USD); nhập khẩu đạt 20,99 tỷ USD, giảm nhẹ 0,8 (tương ứng giảm 0,16 tỷ USD).

Sau 1/3 chặng đường của năm 2019 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 157,72 tỷ USD, tăng 8,7% (tương ứng tăng 12,56 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 79,24 tỷ USD, tăng 6,5% và nhập khẩu đạt 78,48 tỷ USD, tăng 10,9%.

Cán cân thương mại hàng hóa trong tháng 4/2019 thâm hụt 0,55 tỷ USD, tuy nhiên trong 4 tháng đầu năm 2019, cán cân thương mại của cả nước vẫn thặng dư 0,75 tỷ USD.

Biểu đồ 1: Kim ngạch, tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại trong 4 tháng, giai đoạn 2011-2019

 

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Tổng cục Hải quan ghi nhận tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong tháng 4/2019 đạt 25,45 tỷ USD, giảm 10,1% so với tháng trước, đưa trị giá xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 4 tháng /2019 đạt gần 100 tỷ USD, tăng 5,6%, tương ứng tăng 5,32 tỷ USD so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng này đạt 13,87 tỷ USD, giảm 14,1% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu của khối này trong 4 tháng /2019 lên 54,92 tỷ USD, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 4/2019 đạt 11,59 tỷ USD, giảm 4,8% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu của khối này trong 4 tháng/2019 đạt 45,07 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018.

Tính toán của Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong tháng 4/2019 có mức thặng dư trị giá 2,28 tỷ USD, đưa cán cân thương mại trong 4 tháng từ đầu năm 2019 lên mức thặng dư trị giá 9,85 tỷ USD.

2.  Xuất khẩu hàng hóa

Xuất khẩu hàng hóa trong tháng 4/2019 đạt 20,44 tỷ USD, giảm 10,3% về số tương đối và giảm 2,34 tỷ USD về số tuyệt đối so với tháng trước. So với tháng 3/2019, các mặt hàng giảm mạnh trong tháng là: điện thoại các loại và linh kiện giảm 1,5 tỷ USD tương ứng giảm 27,9%; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 250 triệu USD, tương ứng giảm 8,8% hàng dệt may giảm 191 triệu USD tương ứng giảm 7,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng giảm 150 triệu USD, tương ứng giảm 9,8%...

Tổng trị giá xuất khẩu trong 4 tháng/2019 tăng 6,5%, tương ứng tăng 4,82 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó,: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 1,03 tỷ USD, tương ứng tăng 12%; hàng dệt may tăng 874 triệu USD, tương ứng tăng 10,2%; giày dép các loại tăng 682 triệu USD, tương ứng tăng 14,5%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 471 triệu USD, tương ứng tăng 17,8%...

Biểu đồ 2: 10 nhóm hàng xuất khẩu đạt mức tăng lớn nhất về trị giá trong 4 tháng /2019


Nguồn: Tổng cục Hải quan

Một số nhóm hàng xuất khẩu chính

Điện thoại các loại và linh kiện: xuất khẩu mặt hàng này trong tháng 4 đạt trị giá 3,88 tỷ USD, giảm 27,9% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 4/2019, xuất khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện đạt 16,01 tỷ USD, giảm nhẹ 0,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó xuất khẩu nhóm hàng này sang EU (28 nước) đạt 4,38 tỷ USD, giảm 3,9%; xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tăng cao 94,4%, đạt trị giá 3,32 tỷ USD; sang thị trường Hàn Quốc đạt 1,67 tỷ USD, tăng 8,1%... so với cùng kỳ năm trước.

Hàng dệt may: Xuất khẩu hàng dệt may trong tháng 4 đạt 2,34 tỷ USD, giảm 7,5% so với tháng trước. Qua đó, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng /2019 lên 9,46 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 4 tháng , Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam với trị giá đạt 4,42 tỷ USD, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, và chiếm 46,7% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; tiếp theo là thị trường Nhật Bản đã tiêu thụ 1,16 tỷ USD, tăng 4,7%; thị trường EU (28 nước) tiêu thụ 1,16 tỷ USD, tăng 5,5%...

Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện: trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện tháng 4 đạt 2,57 tỷ USD, giảm 8,8% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này 4 tháng/2019 đạt 9,63 tỷ USD tăng 12% so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện sang Trung Quốc đạt 2,43 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước; sang thị trường EU (28 nước) đạt 1,65 tỷ USD, tăng 1,8%; sang thị trường Hoa Kỳ đạt 1,29 tỷ USD, tăng mạnh 64,1%; sang Hàn Quốc đạt 942 triệu USD, tăng 6,6%...

Nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su)

Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,58 tỷ USD, tăng 1% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng tính từ đẩu năm đạt 5,56 tỷ USD, giảm 8,9% so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất nhập khẩu mặt hàng nông sản của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2019 với 1,98 tỷ USD, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm 2018; tiếp theo là thị trường EU (28 nước) là 866 triệu USD, giảm 9,7%; sang Hoa Kỳ với 522 triệu USD, giảm 19,8%...

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 4/2019 đạt 1,34 tỷ USD, giảm 9,8% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 4 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 5,31 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong 4 tháng từ đầu năm 2019 chủ yếu gồm: Hoa Kỳ với 1,3 tỷ USD, tăng 54,7%; EU (28 nước) đạt trị giá 814 triệu USD, tăng 18,7%; Nhật Bản với 599 triệu USD tăng 4,9%; Hàn Quốc với 463 triệu USD, tăng 17,9% so với cùng thời gian năm 2018...

Giày dép các loại: xuất khẩu giày dép các loại trong tháng 4/2019 đạt 1,46 tỷ USD, tăng 11,2% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu giày dép của cả nước trong 4 tháng /2019 đạt 5,39 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm 2018. 

EU và Hoa Kỳ là 2 thị trường chính nhập khẩu nhóm hàng giày dép các loại của Việt Nam trong 4 tháng /2019 với kim ngạch và tốc độ tăng lần lượt là 1,47 tỷ USD (tăng 10,1%) và 2 tỷ USD (tăng 13,5%). Tính chung, trị giá nhóm hàng giày dép xuất khẩu sang 2 thị trường chính đạt 3,47 tỷ USD, chiếm 64,5% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

Gỗ và sản phẩm gỗ: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt trị giá 858 triệu USD, giảm 2,8% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 4 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 3,12 tỷ USD, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước.

Gỗ và sản phẩm gỗ trong 4 tháng/2019 được xuất khẩu chủ yếu đến các thị trường Hoa Kỳ với trị giá 1,42 tỷ USD, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước; sang Nhật Bản với 414 triệu USD, tăng 18,2%; sang Trung Quốc với 365 triệu USD, giảm nhẹ 0,1%; …

Phương tiện vận tải và phụ tùng: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 666 triệu USD, giảm 17,9% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng/2019 đạt 2,82 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2018.

Các thị trường nhập khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng từ Việt Nam trong 4 tháng đầu năm gồm: Nhật Bản với trị giá đạt 842 triệu USD, tăng 11,5%; sang Hoa Kỳ đạt 487 triệu USD, tăng 24,2%; sang Singapore đạt trị giá 214 triệu USD, tăng 38,7% …

Hàng thủy sản: trị giá xuất khẩu trong tháng là 634 triệu USD, giảm 7,3% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng đầu năm nay đạt 2,42 tỷ USD, giảm 0,9% so với cùng thời gian năm 2018.

 Hàng thủy sản trong 4 tháng tính từ đầu năm 2019 chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Nhật Bản: 411 triệu USD, tăng 9,7%; Hoa Kỳ: 386 triệu USD, tăng 1,9%; EU (28 nước) với 393 triệu USD, giảm 9,6%; Trung Quốc: 268 triệu USD, giảm 8,6%… so với một năm trước đó.

Sắt thép các loại: lượng xuất khẩu sắt thép các loại trong tháng 4 đạt 569 nghìn tấn, với trị giá đạt 374 triệu USD, tăng 2,6% về lượng và tăng 2,1% về trị giá. Qua đó đưa lượng xuất khẩu mặt hàng này trong 4 tháng từ đầu năm 2019 đạt 2,33 triệu tấn, trị giá 1,5 tỷ USD, tăng 22,8% về lượng và tăng 7,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Tính đến hết tháng 4/2019 sắt thép các loại chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường Campuchia là 583 nghìn tấn, tăng 57,4%; In-đô-nê-xi-a: 282 nghìn tấn, tăng 7,5%; Ma-lai-xi-a: 244 nghìn tấn, tăng 3%; Hoa Kỳ: 188 nghìn tấn, giảm 35%... so với cùng kỳ năm trước.

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: trị giá xuất khẩu trong tháng là 393 triệu USD, tăng 3,7% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 4 tháng đầu năm nay đạt 1,46 tỷ USD, tăng 13,7% so với cùng thời gian năm trước.

 Trong 4 tháng tính từ đầu năm, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Trung Quốc với 711 triệu USD, tăng 20%; Hồng Kông: 227 triệu USD; giảm 34%; Ấn Độ với 167 triệu USD, tăng 168,5%... so với một năm trước đó.

3. Hàng hóa nhập khẩu

Nhập khẩu hàng hóa trong tháng 4/2019 là 20,99  tỷ USD, giảm nhẹ 0,8% về số tương đối, tương đương giảm 159 triệu USD về số tuyệt đối so với tháng trước. Trong đó, giảm mạnh ở các nhóm hàng như: máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện giảm 429 triệu USD, chất dẻo nguyên liệu & sản phẩm giảm 108 triệu USD, hạt điều giảm 78 triệu USD, ô tô nguyên chiếc giảm 65 triệu USD, hóa chất giảm 47 triệu USD… Bên cạnh đó một số nhóm hàng nhập khẩu trong tháng lại có mức tăng khá cao như dầu thô tăng 231 triệu USD, vải các loại tăng 125 triệu USD,  hàng rau quả tăng 93 triệu USD, phế liệu sắt thép tăng 79 triệu USD, điện thoại các loại & linh kiện tăng 62 triệu USD…

Sau 1/3 chặng đường của năm 2019, trị giá nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 78,48 tỷ USD. Trong đó, đã có tới 18 nhóm hàng chính đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 76% trong tổng trị giá nhập khẩu của cả nước. Với kết quả này, trị giá nhập khẩu hàng hóa trong 4 tháng/2019  cao hơn cùng kỳ năm 2018 tới 7,74 tỷ USD, tương ứng tăng 10,9% so với 4 tháng/2018. Các mặt hàng tăng chủ yếu là: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 2,44 tỷ USD, tương ứng tăng 18,3%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng tăng 1,7 tỷ USD, tương ứng tăng 17,3%; dầu thô tăng 1,23 tỷ USD, tương ứng tăng gấp hơn 8 lần; ô tô nguyên chiếc các loại tăng 949 triệu USD, tương ứng tăng 6,4 lần… so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó có một số nhóm hàng có trị giá giảm như: xăng dầu các loại giảm 980 triệu USD, tương ứng giảm 34,2%; điện thoại các loại và linh kiện giảm 491 triệu USD, tương ứng giảm 11,4%... 

Biểu đồ 3: 10 nhóm hàng nhập khẩu đạt mức tăng về trị giá lớn nhất trong 4 tháng /2019


Nguồn: Tổng cục Hải quan

Một số nhóm hàng nhập khẩu chính

Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: kim ngạch trong tháng 4 là 3,99 tỷ USD, giảm 9,7% so với tháng 3, đưa kim ngạch nhập khẩu nhóm này trong 4 tháng /2019 đạt 15,78 tỷ USD, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong 4 tháng/2019 chủ yếu gồm: thị trường Hàn Quốc với kim ngạch 5,79 tỷ USD, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước, đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc với 3,94 tỷ USD, tăng mạnh 80,1%; tiếp theo là thị trường Đài Loan với 1,53 tỷ USD, tăng 36,2%; thị trường Hoa Kỳ với 1,35 tỷ USD, tăng 38,2%...

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: Trị giá nhập khẩu trong tháng 4/2019 đạt 3 tỷ USD, giảm 1,3% so với tháng trước. Qua đó, đưa kim ngạch nhập khẩu của nhóm hàng này trong 4 tháng /2019 đạt 11,57 tỷ USD tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2018.

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng nhập khẩu trong 4 tháng qua có xuất xứ từ: Trung Quốc đạt 4,37 tỷ USD, tăng 28,6%; từ Hàn Quốc đạt 2,14 tỷ USD, tăng 11,7% và từ Nhật Bản đạt 1,52 tỷ USD, tăng nhẹ 5,7%...so với cùng thời gian năm 2018.

Nhóm mặt hàng nguyên phụ liệu dệt may, da, giày (bao gồm: bông, xơ sợi dệt, vải các loại, nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy): nhập khẩu trong tháng 4 đạt trị giá 2,21 tỷ USD, tăng 4,5% so với tháng trước, qua đó đưa trị giá nhập khẩu trong 4 tháng đầu năm đạt 7,68 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy các loại nhập khẩu về Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với trị giá 3,5 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước; từ Hàn Quốc với 930 triệu USD; giảm 3,4%; từ Hoa Kỳ với 791 triệu USD, tăng 24,8%; từ Đài Loan đạt trị giá 772 triệu USD, giảm 1,1%…

Điện thoại các loại và linh kiện: nhập khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,02 tỷ USD, tăng 6,5% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 4/2019 trị giá nhập khẩu nhóm hàng này đạt 3,81 tỷ USD giảm 11,4% so với cùng kỳ năm 2018.

Trung Quốc và Hàn Quốc tiếp tục là 2 thị trường chính cung cấp điện thoại các loại và linh kiện trong 4 tháng /2019 cho Việt Nam với trị giá chiếm 93,4% trị giá nhập khẩu của mặt hàng này của cả nước, trong đó: từ Trung Quốc là 2,06 tỷ USD, giảm 19,7% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu từ Hàn Quốc là 1,5 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4%…

Chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo: Trong tháng 4/2019, nhập khẩu hai nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ chất dẻo đạt 1,22 tỷ USD, giảm 8,1% so với tháng trước. Qua đó, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu của mặt hàng này trong 4 tháng tính từ đầu năm đạt 4,85 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2018.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu và sản phẩm từ các quốc gia: Hàn Quốc đạt 1,17 tỷ USD tăng 12,2%; Trung Quốc đạt 1,1 tỷ USD tăng 14% ; Đài Loan đạt 461 triệu USD tăng 1,8%... so với 4 tháng/2018.

Sắt thép các loại: trong tháng nhập khẩu nhóm hàng này là 1,3 triệu tấn, trị giá đạt 869 triệu USD, giảm 3,9% về lượng và giảm 3,2% về trị giá. Trong 4 tháng/2019, lượng nhập khẩu sắt thép các loại đạt 4,67 triệu tấn, trị giá 3,13 tỷ USD, tăng 9,6% về lượng và tăng 3,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trong 4 tháng /2019, Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép các loại lớn nhất vào Việt Nam với 1,95 triệu tấn, trị giá đạt 1,22 tỷ USD, tăng 8,6% về lượng, giảm 6,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Đứng thứ 2 là Hàn Quốc với 546 nghìn tấn, trị giá 452 triệu USD, giảm 8,3% về lượng và giảm 3,9% về trị giá; đứng thứ ba là Nhật Bản với 615 nghìn tấn, trị giá đạt 424 triệu USD, giảm 13,2% về lượng và giảm 13,8% về trị giá…

Hóa chất và sản phẩm từ hóa chất: nhập khẩu hai nhóm hàng này trong tháng 4/2019 có trị giá 852 triệu USD, giảm 6,2% so với tháng trước, đưa trị giá nhập khẩu hai  nhóm hàng này trong 4 tháng /2019 đạt 3,28 tỷ USD, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.

Hóa chất và sản phẩm trong 4 tháng tính từ đầu năm 2019 nhập khẩu về Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc với 964 triệu USD, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2018; xuất xứ từ Đài Loan với 444 triệu USD, tăng 20,3%; xuất xứ từ Hàn Quốc với 365 triệu USD, tăng 5,9%...

Xăng dầu các loại:  Lượng nhập khẩu trong tháng 4/2019 đạt 986 nghìn tấn, trị giá 650 triệu USD, tăng 8,5% về lượng và tăng 15,7% về trị giá so với tháng trước, đưa tổng lượng nhập khẩu xăng dầu các loại trong 4 tháng/2019 đạt 3,07 triệu tấn, trị giá 1,89 tỷ USD, giảm 31,6% về lượng và giảm 34,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Xăng dầu các loại được nhập khẩu về Việt Nam trong 4 tháng /2019 chủ yếu có xuất xứ từ Ma-lai-xi-a với 878 nghìn tấn, giảm 34,5%; Singapore với 745 nghìn tấn, giảm 18,6%; Hàn Quốc với 654 nghìn tấn, giảm 45,2%... so với 4 tháng/2018.

TỔNG QUAN SỐ LIỆU THỐNG KÊ HẢI QUAN

VỀ XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ THÁNG 4 VÀ 4 THÁNG/2019

Stt

Chỉ tiêu

Số sơ bộ

(A)

(B)

(C)

I

Xuất khẩu hàng hoá (XK)

 

1

I.1

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá tháng 4/2019 (Triệu USD)

20.440

2

I.2

Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu của tháng 4/2019 so với tháng 3/2019 (%)

-10,3

3

I.3

Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu của tháng 4/2019 so với tháng 4/2018 (%)

10,4

4

I.4

Tổng kim ngạch xuất khẩu 4 tháng/2019 (Triệu USD)

79.235

5

I.5

Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu 4 tháng/2019 so với cùng kỳ năm 2018 (%)

6,5

II

Nhập khẩu hàng hoá (NK)

6

II.1

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá tháng 4/2019 (Triệu USD)

20.994

7

II.2

Tăng/giảm kim ngạch nhập khẩu của tháng 4/2019 so với tháng 3/2019 (%)

-0,8

8

II.3

Tăng/giảm kim ngạch nhập khẩu của tháng 4/2019 so với tháng 4/2018 (%)

19,9

9

II.4

Tổng kim ngạch nhập khẩu 4 tháng/2019 (Triệu USD)

78.483

10

II.5

Tăng/giảm kim ngạch nhập khẩu 4 tháng/2019 so với cùng kỳ năm 2018 (%)

10,9

III

Tổng kim ngạch XNK hàng hoá (XK+NK)

11

III.1

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá tháng 4/2019 (Triệu USD)

41.434

12

III.2

Tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của tháng 4/2019 so với tháng 3/2019 (%)

-5,7

13

III.3

Tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của tháng 4/2019 so với tháng 4/2018 (%)

15,0

14

III.4

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 4 tháng/2019 (Triệu USD)

157.718

15

III.5

Tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu 4 tháng/2019 so với cùng kỳ năm 2018 (%)

8,7

IV

Cán cân Thương mại hàng hoá (XK-NK)

16

IV.1

Cán cân thương mại tháng 4/2019 (Triệu USD)

-555

17

IV.2

Cán cân thương mại 4 tháng/2019 (Triệu USD)

752

Nguồn: Tổng cục Hải quan

 

Dự kiến Bài Phân tích Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2019 sẽ được phổ biến từ ngày 12/6/2019.

Liên kết
Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+8424) 39440833 (ext: 8613)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan