Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

Bảng tổng hợp câu hỏi - đáp vướng mắc của doanh nghiệp sau cuộc khảo sát ý kiến khách hàng đối với các hoạt động hải quan năm 2012

26/03/2013 3:00 PM

BẢNG TỔNG HỢP CÂU HỎI - ĐÁP VƯỚNG MẮC CỦA

DOANH NGHIỆP SAU CUỘC KHẢO SÁT Ý KIẾN KHÁCH HÀNG

ĐỐI VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG HẢI QUAN NĂM 2012

 

 

Kính thưa Quý Doanh nghiệp!

Từ tháng 10/2012 đến tháng 12/2012, Tổng cục Hải quan đã phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), với sự tài trợ của dự án Hỗ trợ kỹ thuật Dự án hỗ trợ thực thi pháp luật hội nhập kinh tế (USAID STAR Plus) tiến hành cuộc khảo sát ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp đang tham gia hoạt động XNK và đã đón nhận được sự tham gia nhiệt tình của gần 1.600 doanh nghiệp.

Trên cơ sở nội dung Phiếu khảo sát do Tổng cục Hải quan xây dựng, VCCI là đơn vị tổng hợp, phân tích dữ liệu và thực hiện báo cáo kết quả cuối cùng, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Các ý kiến góp ý, phản ánh vướng mắc của Quý doanh nghiệp được VCCI tổng hợp chuyển cho Tổng cục Hải quan nghiên cứu, trả lời.

Tổng cục Hải quan xin hoan nghênh những đóng góp hết sức quý báu của Quý doanh nghiệp. Những ý kiến, phản ánh, góp ý mang tính chất định hướng, những vấn đề liên quan đến nhiều đơn vị, chúng tôi xin ghi nhận, tiếp tục nghiên cứu, giải quyết nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong thời gian tới.

Sau đây là những giải đáp, trả lời cụ thể:

Câu hỏi 1:    

Một số lô hàng đã kiểm tra thực tế hàng hóa nhưng sau khi phúc tập kiểm tra sau thì hải quan cho rằng doanh nghiệp khai sai và truy thu thuế  

Trả lời:

Hàng hóa đã được kiểm tra thực tế tại khâu thông quan nhưng trong thời hạn 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan, lực lượng kiểm tra sau thông quanvẫn được quyền kiểm tra (theo Điều 32 Luật Hải quan); nếu những lô hàng đó rơi vào trường hợp được kiểm tra sau thông quanvà phát hiện khai sai dẫn tới thiếu tiền thuế thì người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu đó vào Ngân sách Nhà nước (theo Điều 110 Luật Quản lý thuế).

Câu hỏi 2:    

Mặt hàng sữa của chúng tối bị tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính tại cửa khẩu, hải quan tại Tân Cảng điều chỉnh về mã số 0402299000, thuế nhập khẩu 5%, sau khi kiểm tra sau thông quan đưa về mã số 1901102090, thuế nhập khẩu 10%, gây rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp (truy thu từ 2008-2011)                                        .

Trả lời:

Lực lượng kiểm tra sau thông quancăn cứ thực tế hồ sơ, sổ sách lưu tại doanh nghiệp, thành phần các chất trong sữa, đối chiếu với Biểu thuế năm 2008 đến năm 2011, Thông tư số 162/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 của Bộ Tài chính để phân loại. Nếu trước đây Hải quan cửa khẩu đã điều chỉnh nhưng chưa chính xác thì căn cứ Điều 110 Luật Quản lý thuế vẫn phải thu đủ thuế vào Ngân sách Nhà nước.

Câu hỏi 3:    

Đề nghị cơ quan hải quan kết hợp với các Bộ, ngành ra quy định rõ hơn về nhập khẩu hàng hóa, tránh sự chồng chéo văn bản giữa các ngành. Đặc biệt là mặt hàng hóa chất.

Ví dụ: Mặt hàng Titan oxit HS: 28230000. Đây là mặt hàng phải khai báo hóa chất nguy hiểm với Cục hóa chất - Bộ Công thương theo Nghị định số 26/2011/NĐ-CP của Chính phủ. Tuy nhiên theo Quyết định số 818/QĐ-BYT của Bộ Y tế thì mặt hàng này lại phải kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Do đó khi làm thủ tục thông quan cho sản phẩm này mất rất nhiều chi phí và thời gian.

Trả lời:

Cơ quan Hải quan không có chức năng ban hành quy định chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá, việc này do các Bộ quản lý chuyên ngành ban hành, cơ quan hải quan chỉ là cơ quan phối hợp. Việc vướng mắc này cần được doanh nghiệp phản ánh trực tiếp với các Bộ ban hành văn bản cụ thể;

Riêng về mặt hàng hoá chất Titan dioxit nhập khẩu phải khai báo hoá chất theo quy định của Bộ Công Thương là đúng quy định, nếu mặt hàng này nhập khẩu sử dụng làm phẩm màu phụ gia thực phẩm thì cũng phải kiểm tra an toàn thực phẩm (nếu không làm thực phẩm thì lấy xác nhận của Bộ Y tế không phải kiểm tra an toàn thực phẩm). Việc một mặt hàng nhưng có nhiều Bộ quản lý theo chức năng của từng Bộ là đúng quy định, không thể kiến nghị bãi bỏ được.

Câu hỏi 4:    

Đơn giản tiếp thủ tục hành chính, ví dụ như hàng được đóng dấu giám sát thì không ký vào sổ trước khi đưa hàng vào kho giảm các công đoạn. Hàng đã qua khu vực giám sát thì không cần đóng dấu thực xuất nữa. Đơn giản hóa các loại giấy tờ ví dụ như xuất trình lệnh bill có đóng dấu của bên thứ ba.

Trả lời:

Theo mẫu tờ khai mới ban hành thì hàng hoá đã qua khu vực giám sát không còn ô thực xuất nữa. Do đó cần căn cứ vào mẫu tờ khai hiện tại. Kiến nghị nêu trên của doanh nghiệp thời điểm hiện tại là không hợp lý nữa.


 

Câu hỏi 5:

Đối với việc thanh khoản hợp đồng gia công, phần phế liệu để tồn đến hết hợp đồng mới cho bán là không hợp lý. Trong thực tế công ty chúng tôi nếu 30 ngày mà không bán phế liệu thì không có chỗ sản xuất, nguy hiểm vì chất dễ cháy, mong các cơ quan thẩm quyền xem xét.

Trả lời:

Ghi nhận phản ánh của doanh nghiệp để xem xét khi sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Câu hỏi 6:

Đối với doanh nghiệp chế xuất nên bỏ thủ tục nhập khẩu từ nội địa đối với những mặt hàng có trị giá thấp thực tế khi doanh nghiệp chế xuất mua những mặt hàng này từ nội địa họ đã phải mua bằng giá với giá bán trong nước (nghĩa là đã bao gồm cả thuế nhập khẩu, thuế GTGT...) Vậy mà lại yêu cầu làm thủ tục nhập khẩu làm cho doanh nghiệp chế xuất lại mất thêm chi phí làm thủ tục hải quan (đối với doanh nghiệp đi thuê người làm thủ tục hải quan thì càng tốn kém). Vậy theo tôi việc mua nguyên liệu, vật tư, thiết bị… từ nội địa của doanh nghiệp chế xuất nên để doanh nghiệp tự lựa chọn 2 cách:

+ Có làm thủ tục hải quan (đối với loại hóa đơn tài chính không có thuế GTGT;)

+ Không làm thủ tục hải quan (đối với trường hợp có hóa đơn thuế GTGT).

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 04/3/2008 của Chính phủ:

* Khoản 1 “Khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất được áp dụng quy định đối với khu phi thuế quan theo quy định của pháp luật. Quy định là doanh nghiệp chế xuất được ghi trong Giấy chứng nhận đầu tư.”

* Khoản 3 “Doanh nghiệp chế xuất được mua văn phòng phẩm, lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng từ nội địa Việt Nam để phục vụ cho điều hành bộ máy văn phòng và sinh hoạt của cán bộ, công nhân làm việc tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp chế xuất được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu và hải quan đối với những loại hàng hóa này.”

* Khoản 5 “Quan hệ trao đổi hàng hóa giữa các khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất với các khu vực khác trên lãnh thổ Việt Nam, trừ khu phi thuế quan, là quan hệ xuất, nhập khẩu.”

Do vậy, hàng hóa nguyên liệu, vật tư, thiết bị do doanh nghiệp chế xuất mua từ nội địa phải làm thủ tục hải quan theo quy định.

Câu hỏi 7:       

Công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản mới chưa được thường xuyên. Nhiều doanh nghiệp không được mời dự các đợt phổ biến, tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật.

Trả lời:

Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật sau khi được cấp có thẩm quyền ký ban hành, Tổng cục Hải quan đã cho đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Hải quan và hướng dẫn các Cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện phổ biến, tuyên truyền trên cơ sở thực tiễn hoạt động của từng đơn vị cũng như căn cứ vào tính chất của từng loại văn bản để doanh nghiệp kịp thời cập nhật trước thời điểm văn bản có hiệu lực thi hành bằng nhiều hình thức khác nhau như: Đăng tải văn bản trên trang thông tin điện tử của từng đơn vị; Niêm yết văn bản tại trụ sở làm việc.

Đối với những văn bản điều chỉnh liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hải quan, cơ quan Hải quan đều tiến hành phổ biến, tuyên truyền rộng rãi đến các doanh nghiệp về các chính sách mới để các doanh nghiệp kịp thời nắm bắt nhằm phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu, kinh doanh của doanh nghiệp thông qua hội nghị đối thoại, đăng tải trên trang thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở...và nhiều hình thức tuyên truyền, phổ biến khác để hỗ trợ kịp thời cho doanh nghiệp.

Câu hỏi 8:

Tổng cục Hải quan nên có hình thức trả lời, giao lưu trực tuyến với doanh nghiệp mỗi năm vài lần để giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp.

Trả lời:

Tổng cục Hải quan ghi nhận đề xuất của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiện nay hàng năm cơ quan hải quan đều triển khai thực hiện công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp thông qua các hội nghị tập huấn khi có các văn bản mới cần tập huấn cho các doanh nghiệp để triển khai thực hiện. Công tác này đang được thực hiện hiệu quả, thường xuyên ở cả cấp Tổng cục và cấp Cục Hải quan các tỉnh, thành phố. Cụ thể: Tại cấp Tổng cục, hội nghị đối thoại doanh nghiệp được tổ chức định kỳ 6 tháng hoặc 01 năm/lần (trừ trường hợp đột xuất) trong khi đó tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, theo quy định là hàng quý hoặc 06 tháng một lần phải tổ chức đối thoại với doanh nghiệp trên địa bàn (trừ trường hợp đột xuất) nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cũng như kịp thời hướng dẫn triển khai các chính sách mới được ban hành cho doanh nghiệp.

Câu hỏi 9:

Việc cơ quan hải quan giải đáp các vướng mắc của doanh nghiệp bằng văn bản còn chậm (thường là 10-15 ngày doanh nghiệp mới nhận được văn bản trả lời).

Trả lời:

Theo quy định của cơ quan hải quan về trả lời, giải quyết vướng mắc cho doanh nghiệp, thời hạn tối đa không quá 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu trả lời vướng mắc của khách hàng, cơ quan hải quan phải có công văn hồi đáp. Tuy nhiên, đối với phản ánh thường từ 10-15 ngày doanh nghiệp mới nhận được văn bản trả lời thì có thể do nội dung yêu cầu của doanh nghiệp vượt thẩm quyền nên cần phải lấy ý kiến của cấp có thẩm quyền (trong vòng 5 ngày làm việc) và sau khi nhận được ý kiến của cấp có thẩm quyền thì trong thời hạn 3 ngày làm việc cơ quan hải quan phải có văn bản trả lời. Do đó việc trả lời cho doanh nghiệp có thể bị kéo dài.

Câu hỏi 10:

Có sự khác biệt về thời hạn khai bổ sung thuế giữa Luật Hải quan với Luật Thuế xuất nhập khẩu.

Trả lời:

Nội dung này đã được đề xuất sửa đổi tại Khoản 5, Điều 27 dự thảo Luật Hải quan sửa đổi ngày 18/2/2013 để đảm bảo phù hợp.

Câu hỏi 11:

Một số nội dung trong Luật Thương mại và Luật Hải quan còn trùng lặp, phân tán, gây khó khăn cho cơ quan thực thi và doanh nghiệp.

Trả lời:

Nội dung này đã được tiến hành rà soát và đề xuất sửa đổi trong dự thảo Luật Hải quan sửa đổi ngày 18/2/2013 để đảm bảo thống nhất giữa Luật Thương mại và Luật Hải quan.

Câu hỏi 12:                                                            

Năm 2012 công ty chúng tôi nhập khẩu mặt hàng túi nilon tại chỗ để sản xuất xuất khẩu (nhập sản xuất xuất khẩu  tại chỗ để xuất khẩu). Trong quá trình nhập mặt hàng, Chi cục Hải quan Phú Thọ ấn định thuế môi trường cho mặt hàng này và chúng tôi có hỏi lại cán bộ hải quan Chi cục Phú thọ và được biết thuế môi trường này sẽ được xét xin không thu (đối với trường hợp được ân hạn thuế) và được xét xin hoãn (đối với trường hợp nộp thuế) nếu chúng tôi chứng minh rằng lượng hàng hóa túi nilon trên đã được sản xuất xuất khẩu thông qua hồ sơ thanh khoản, quyết định thanh khoản. Nhưng cho đến nay chúng tôi đã thực sản xuất xuất khẩu hết lượng túi nilon trên (có quyết định thanh khoản) của Chi cục Hải quan Phú Thọ, nhưng số thuế môi trường đó vẫn chưa được xét duyệt. Chúng tôi có hỏi lại Chi cục Hải quan Phú Thọ và được cho biết chưa có thông tư, quyết định gì về thuế môi trường cho mặt hàng túi nilon. Vậy công ty chúng tôi đề nghị cơ quan hải quan xem xét lại thuế môi trường cho mặt hàng túi nilon trên và cho doanh nghiệp chúng tôi biết tình hình cụ thể.

Trả lời:

Căn cứ Luật Thuế bảo vệ môi trường, Nghị định 67/2011/NĐ-CP ngày 8/8/2011 của Chính phủ, Thông tư 152/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính và Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 14/9/2012 của Chính phủ, mặt hàng túi nilon PE nhập khẩu kể từ ngày 1/1/2012 đến 14/11/2012 để đóng gói hàng hóa sản xuất xuất khẩu thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường. Từ 15/11/2012 trở đi, mặt hàng túi nilon nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế bảo vệ môi trường (theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 14/9/2012 của Chính phủ và Điều 2 Thông tư số 159/2011/TT-BTC ngày 11/11/2011 của Bộ Tài chính)

Để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, ngày 7/1/2013, Chính phủ đã ra Nghị Quyết 02/NQ-CP quy định mặt hàng túi nilon làm bao bì đóng gói sẵn sản phẩm nhập khẩu từ 01/01/2012 đến 14/11/2012 được hoàn thuế bảo vệ môi trường (nếu đã nộp) và không thu thuế (nếu chưa nộp). Hiện tại Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện việc hoàn thuế. Đề nghị Công ty liên hệ với cơ quan hải quan nơi nhập khẩu hàng hóa để được hướng dẫn hoàn lại thuế bảo vệ môi trường đã nộp khi Thông tư hướng dẫn được ban hành.

Câu hỏi 13:

Một sản phẩm nhưng mỗi lúc kiểm hóa công chức hải quan áp một mã hồ sơ khác nhau. Việc áp mã không thống nhất ở mỗi Chi cục và giữa các Chi cục với nhau.

Trả lời:

Về nguyên tắc, một mặt hàng chỉ có một mã HS cụ thể; tuy nhiên, do có những mặt hàng phức tạp, dễ lẫn, chưa được chi tiết tên cụ thể trong Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam và Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hoặc do hồ sơ hải quan liên quan đến các tiêu chí hàng hóa được kê khai không giống nhau, dẫn đến cách hiểu khác nhau về đặc tính, cấu tạo, thành phần của hàng hóa. Do đó, một mặt hàng có thể đã được phân loại mã HS khác nhau. Tổng cục Hải quan tiếp thu ý kiến của doanh nghiệp, tăng cường hơn nữa công tác đào tạo để giúp cán bộ hải quan có cách hiểu thống nhất trong việc phân loại và áp mã số hàng hóa. Đồng thời đề nghị doanh nghiệp khai báo, kê khai đầy đủ, cụ thể chi tiết liên quan đến mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu để tạo thuận lợi cho cán bộ hải quan trong quá trình kiểm tra, phân loại hàng hóa và áp mã số HS. Trường hợp thực tế phát sinh việc phân loại một mặt hàng không thống nhất giữa các đơn vị hải  quan và doanh nghiệp, đề nghị doanh nghiệp gửi hồ sơ liên quan về Tổng cục Hải quan để được hướng dẫn cụ thể.

Câu hỏi 14:                                                            

Mã số thuế cho một số mặt hàng dùng trong phòng thí nghiệm y tế còn chung chung, chưa được định danh trên Biểu thuế.

Trả lời:

Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi của Việt Nam được xây dựng dựa trên Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài chính trên nguyên tắc tôn trọng, tuân thủ cam kết quốc tế. Theo đó, Biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi hiện hành được chi tiết mã số (ở cấp độ 8 chữ số) và phần mô tả hàng hóa đảm bảo tuân thủ theo đúng danh mục AHTN.

Đối với một số mặt hàng dùng trong phòng thí nghiệm chưa được định danh trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, việc phân loại hàng hóa được thực hiện theo đúng nguyên tắc phân loại hàng hóa, căn cứ phân loại quy định tại Điều 5, Điều 6, Mục 1, Chương II, Thông tư số 49/2010/TT-BTC ngày 12/4/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và 6 quy tắc tổng quát giải thích việc phân loại hàng hóa theo hệ thống hài hóa mô tả và mã hóa hàng hóa ban hành kèm theo Thông tư số 156/2011/TT-BTC ngày 14/11/2011 của Bộ Tài chính.

Câu hỏi 15:

- Các cán bộ thuế khi áp dụng trị giá tính thuế rất tùy nghi, lúc chấp nhận, lúc không. Lúc không chấp nhận thì yêu cầu tham chiếu rất mất thời gian, từ 3-5 ngày trong khi giá tham chiếu cũng không chính xác được trên 90%. Có trường hợp doanh nghiệp nhập khẩu giá rẻ mới giảm được giá thành những hải quan vẫn không chấp nhận giá thanh toán qua ngân hàng.

- Mặt hàng có giá trị thấp nhưng đôi khi bị cơ quan hải quan áp giá tính thuế cao.

Trả lời:

Việc kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá tính thuế được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 205/2010/TT-BTC: Khi có nghi vấn về mức giá khai báo, cơ quan hải quan sẽ thông báo về việc nghi vấn trị giá khai báo và trị giá tính thuế do cơ quan hải quan xác định cho doanh nghiệp biết. Nếu doanh nghiệp không đồng ý với mức giá tính thuế, phương pháp xác định trị giá tính thuế do cơ quan hải quan xác định có yêu cầu tham vấn thì sẽ được thực hiện quyền tham vấn theo quy định tại Điều 26 Thông tư này. Sau khi tham vấn, việc chấp nhận hay không chấp nhận mức giá khai báo của doanh nghiệp  được cơ quan hải quan thực hiện theo quy định tại điểm 4.4, khoản 4, Điều 25 Thông tư 205/2010/TT-BTC.

Trường hợp không chấp nhận mức giá khai báo, cơ quan hải quan tiến hành xác định trị giá tính thuế theo quy định tại Thông tư số 205/2010/TT-BTC, phù hợp với cơ sở dữ liệu giá tại thời điểm xác định trị giá.

Đề nghị doanh nghiệp nghiên cứu các quy định về việc kiểm tra, tham vấn, xác định giá nêu trên để phối hợp với cơ quan hải quan nơi mở tờ khai hải quan thực hiện đúng quy định của pháp luật về trị giá tính thuế.

 

Câu hỏi 16:

Doanh nghiệp đã phải tham vấn giá nhiều lần với cùng một mặt hàng do các chi cục hải quan khác nhau yêu cầu.

Trả lời:

Theo quy định tại tiết 3.4 khoản 3, Điều 26 Thông tư số 205/2010TT-BTC thì đối với cùng một mặt hàng do cùng một doanh nghiệp làm thủ tục nhập khẩu tại cùng một đơn vị hải quan, theo cùng một hợp đồng hoặc nhiều hợp đồng khác nhau thì tổ chức tham vấn cho lô hàng nhập khẩu lần đầu nếu đáp ứng đủ 2 điều kiện tại tiết 3.4 khoản này.

Câu hỏi 17:

Đơn giá sử dụng số lẻ ở phía sau là 6 chữ số (đơn giá của doanh nghiệp trên invoice cùng vậy), nhưng số điều chỉnh ở tờ khai phần trị giá chỉ cho nhận 4 chữ số lẻ ở phía sau, gây khó khăn cho doanh nghiệp.

Trả lời:

Hiện nay, các hệ thống cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan chấp nhận đơn giá kha báo có các chữ số lẻ phía sau (đến 4 chữ số lẻ) và tính thuế theo khai báo của doanh nghiệp. Tuy nhiên khi hiển thị trên hệ thống thì chỉ hiện thị đơn giá có 4 chữ số lẻ phía sau để tiện cho việc theo dõi trên giao diện của hệ thống. Do đó sẽ không có sự sai lệch về số liệu giữa hệ thống và khai báo theo invoice của doanh nghiệp.

Câu hỏi 18:

Hải quan yêu cầu doanh nghiệp khai phí THC tính vào trị giá tính thuế là không hợp lý vì khi thanh toán phí THC với hãng tàu (nếu có), doanh nghiệp đã phải nộp thuế GTGT cùng phí THC cho hãng tàu.

Trả lời:

Căn cứ điểm 1.2.7, tiết 1.2, khoản 1 Điều 14 Thông tư số 205/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính thì chi phí vận tải và mọi chi phí khác có liên quan trực tiếp đến vận tải hàng hóa nhập khẩu cho đến khi hàng hóa đã được vận chuyển đến cửa khẩu nhập đầu tiên là một trong các khoản phải cộng vào trị giá tính thuế

Căn cứ điểm 2.2.3, tiết 2.2 khoản 2 Điều 14 Thông tư số 205/TT-BTC của Bộ Tài chính thì các khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp ở Việt Nam đã nằm trong giá mua hàng nhập khẩu là một trong các khoản được trừ ra khỏi trị giá tính thuế hàng  nhập khẩu.

Như vậy, các khoản thuế, phí, lệ phí phải nộp ở Việt Nam đã nằm trong giá mua hàng  nhập khẩu là khoản điều chỉnh trừ khỏi trị giá tính thuế.

Câu hỏi 19:

Công ty đã từng có công văn xin miễn, giảm thuế nhập khẩu linh kiện (thiết bị máy ép đất cho sản xuất gốm nhưng không được trả lời bằng văn bản, sau đó Hiệp hội gốm sứ Bình Dương đã gửi tiếp công văn nhưng chưa có kết quả (công văn số 07/12-CV/PDL ngày 16/12/2010; số 31/CV-HHGS ngày 07/03/2012).      

Trả lời:

Câu hỏi này không rõ nên Cục Thuế xuất nhập khẩu không có cơ sở để trả lời. Tuy nhiên Cục Thuế xuất nhập khẩu đã rà soát công văn đến, trên thực tế Cục không nhận được công văn số 07/12-CV-PDL ngày 10/12/2010 và công văn số 31/CV-HHGS ngày 7/3/2012 của Hiệp hội gốm sứ Bình Dương.

Câu hỏi 20:

             - Đôi khi nhân lực của cơ quan hải quan không đủ để kiểm tra nhiều nhà máy cùng thời điểm;

             - Nghiệp vụ chuyên môn của công chức hải quan làm công tác kiểm hóa còn yếu.

- Một số công chức còn hạn chế về mặt nghiệp vụ, không nắm bắt hết các thay đổi về thương mại quốc tế làm cho việc giải phóng hàng của doanh nghiệp bị mất thời gian không đáng có.

Trả lời:

Doanh nghiệp phản ánh quá chung chung do vậy rất khó cho việc trả lời cụ thể.

Ngành Hải quan đã bố trí lực lượng cán bộ công chức làm nghiệp vụ Hải quan và thường xuyên tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cho lực lượng cán bộ công chức này đáp ứng yêu cầu công tác. Tuy nhiên cũng còn tồn tại trường hợp cán bộ công chức còn yếu về nghiệp vụ. Đề nghị doanh nghiệp cần nêu rõ vụ ciệc vướng mắc xảy ra ở đâu, trong trường hợp nào và cán bộ công chức trực tiếp giải quyết.

Câu hỏi 21:

Phải chi phí ngoài nhiều (không có chứng từ hóa đơn) như chi phí bồi dưỡng kiểm hóa, chi phí đóng dấu giám sát vào tờ khai“Hải quan bãi, hải quan cổng”, yêu cầu chi phí không chính thức là “bắt buộc”, không thể không chấp nhận.

Trả lời:

Trong quy định của Nhà nước, của Bộ Tài chính, những chi phí mà doanh nghiệp phải nộp khi làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa, xuất nhập khẩu người và phương tiện đều được quy định rõ bằng văn bản thông báo công khai, ngoài những gì đã được quy định rõ bằng văn bản thông báo công khai, ngoài những gì được quy định rõ bằng văn bản các khoản phải nộp của các đối tượng phải chịu sự điều chỉnh khi tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh thì không có bất cứ khoản thu nào không có hóa đơn, chứng từ. Do đó vấn đề doanh nghiệp nêu có thể giải quyết theo 2 hướng:

- Doanh nghiệp biết rõ những khoản tiền nộp sẽ không vào Ngân sách nhà nước mà vẫn nộp thì đây là hành động tiếp tay của doanh nghiệp cho một số cá nhân, tổ chức trong Ngành Hải quan, có thể khắng định hành động trên là trái pháp luật, do đó doanh nghiệp cần nắm vững pháp luật và không nộp bất cứ khoản thu nào nếu khoản đó không được nộp vào NSNN;

- Nếu trong khi làm thủ tục hải quan mà các cá nhân, tổ chức có biểu hiện vòi vĩnh, gây khó dễ để đòi tiền, đề nghị doanh nghiệp cần thu thập bằng chứng và báo ngay cho lãnh đạo các cấp tại nơi làm thủ tục hải quan hoặc báo lên Cục Hải quan tỉnh, thành phố nơi làm thủ tục hoặc Tổng cục Hải quan qua đường dây nóng.

Câu hỏi 22:

Đến giờ làm việc doanh nghiệp vẫn phải chờ vì cán bộ hải quan đi ăn sáng chưa về hoặc chưa hết giờ đã nghỉ đi đánh bóng hay ăn cỗ cưới...; cán bộ kiểm hóa ra bãi kiểm trễ, cán bộ hải quan giám sát bãi thường vắng mặt khi doanh nghiệp cần làm thủ tục; không có lãnh đạo Chi cục Hải quan trực làm thủ tục.

Trả lời:

Về quản lý giờ giấc làm việc, Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngành Hải quan và các đơn vị đã có rất nhiều văn bản để quản lý, thậm chí việc đi muộn, về sớm còn là tiêu chí để bình xét thi đua hàng tháng. Việc doanh nghiệp phản ánh có thể có một vài trường hợp cá biệt. Khi gặp các trường hợp này, doanh nghiệp cần phản ánh ngay lên lãnh đạo Cục, Chi cục nơi làm thủ tục để có biện pháp xử lý đối với các cá nhân đó.

Câu hỏi 23:

Phần mềm Hải quan điện tử tích hợp thêm phần nộp thuế online khi doanh nghiệp hoàn tất việc khai báo và được hải quan chấp nhận thông quan thì doanh nghiệp chỉ việc nộp thuế qua mạng và in tờ khai hải quan điện tử đi nhận hàng. Hiện tại áp dụng hải quan điện tử nhưng doanh nghiệp vẫn phải mang đầy đủ hồ sơ đến hải quan để kiểm tra và nộp như khai doanh nghiệp truyền thống.   

Trả lời:

Hiện nay, Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan đã được tích hợp với việc nộp thuế, phí điện tử (e-payment). Tuy nhiên, để thực hiện được điều nay, các doanh nghiệp có nhu cầu phải thực hiện dịch vụ qua các Ngân hàng Thương mại có kết nối với Kho bạc và cơ quan Hải quan.

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 10 Nghị định 87/2012/NĐ-CP của Chính phủ thì “Trường hợp chấp nhận đăng ký tờ khai, Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan cấp số Tờ khai hải quan điện tử, thực hiện phân luồng và phản hồi thông tin cho người khai hải quan. Việc phân luồng được thực hiện theo một trong những hình thức dưới đây:

a) Chấp nhận thông tin khai Tờ khai hải quan điện tử và cho phép thông quan;

b) Nộp, xuất trình các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan điện tử để kiểm tra trước khi cho phép thông quan theo quy định tại Điều 11 Nghị định;

c) Nộp, xuất trình chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan điện tử và xuất trình hàng hóa để kiểm tra trước khi cho phép thông quan.”

Như vậy, việc mang đầy đủ hồ sơ đến cơ quan Hải quan và nộp như khai hải quan truyền thống sẽ xảy ra đối với những tờ khai được phân luồng là luồng vàng (trường hợp b nêu trên) và luồng đỏ (trường hợp c nêu trên).

Câu hỏi 24:

Sau khi tờ khai được chấp nhận thông quan trên hệ thống điện tử thì doanh nghiệp phải mang tờ khai đến Chi cục hải quan để nhân viên hải quan ký, đóng dấu xác nhận.                

Trả lời:

Theo quy định tại Điểm b1 Khoản 3 Điều 9, Khoản 2 Điều 18 Thông tư 196/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính thì khi nhận được quyết định chấp nhận thông quan trên Hệ thống thì doanh nghiệp có 02 lựa chọn để thực hiện tiếp các thủ tục như sau:

(1) Xuất trình tờ khai hải quan điện tử in tại khu vực giám sát có kết nối với Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan để làm thủ tục tiếp theo. Lưu ý chỉ có thể thực hiện được nếu khu vực giám sát được kết nối với Hệ thống. Danh sách các địa điểm giám sát được kết nối được đăng tải công khai trên Website Hải quan;

(2) Với những khu vực giám sát chưa có kết nối với Hệ thống, tờ khai hải quan điện tử in cần phải được xác nhận tại Chi cục Hải quan nơi đăng ký tờ khai trước khi ra khu vực giám sát hải quan để thực hiện tiếp các thủ tục.

Như vậy, các doanh nghiệp cần kiểm tra thực trạng kết nối của các địa điểm giấm sát hải quan trước khi làm các thủ tục tiếp theo.

Câu hỏi 25:

Việc cung ứng phụ liệu mua tại Việt Nam thanh toán bằng hóa đơn thuế GTGT thì có cần phải in ra giấy để đăng ký và đóng dấu của cán bộ công chức hải quan không (thực hiện làm thủ tục hải quan điện tử).

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 25 Thông tư 196/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính thì đối với nguyên liệu, vật tư cung ứng do bên nhân gia công tự sản xuất hoặc mua tại thị trường Việt Nam thì:

- Khi đưa nguyên liệu, vật tư vào cung ứng cho hợp đồng gia công người khai hải quan không phải làm thủ tục hải quan nhưng phải được hai bên thỏa thuận về tên gọi, quy cách, số lượng trong hợp đồng/phụ lục hợp đồng gia công và khi làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm gia công, người khai hải quan phải khai nguyên vật liệu gia công tự cung ứng theo các tiêu chí thông tin quy định tại Mẫu Nguyên vật liệu gia công tự cung ứng;

- Đối với nguyên liệu, vật tư tự cung ứng từ nguồn do bên nhận gia công tự sản xuất hoặc mua tại thị trường Việt Nam có thuế xuất khẩu thì khi làm thủ tục xuất khẩu sản phẩm gia công, người khai hải quan thực hiện khai, tính thuế xuất khẩu (nếu có) trên phụ lục tờ khai điện tử xuất khẩu.

Trên cơ sở các quy định nêu trên, doanh nghiệp tự xác định thuộc trường hợp nào nêu trên để thực hiện đúng quy định.

Câu hỏi 26:

Đa phần (95%) khai báo điện tử nhưng thực tế làm cũng giống như khai hồ sơ giấy thủ công trước đây; Đã khai điện tử mà phần khai đánh máy phải khai in chạy lên trình cho hải quan xem kỹ -> lưu -> doanh nghiệp mới khai -> tốn 3 bộ đánh máy, mất thời gian.

Trả lời:

Đề nghị doanh nghiệp làm rõ vướng mắc nêu trên vì “thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan trong đó việc khai, tiếp nhận, xử lý thông tin khai hải quan, trao đổi các thông tin khác theo quy định của pháp luật về thủ tục hải quan giữa các bên có liên quan được thực hiện thông qua Hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan”.

Như vậy, doanh nghiệp chỉ thực hiện khai báo 1 lần và Hệ thống sẽ tự động kiểm tra, nếu hợp lệ sẽ tự động cấp số tờ khai; không thực hiện việc khai báo trên tờ khai giấy.


 

Câu hỏi 27:                                                            

Hiện tại công ty đang gặp một vướng mắc với Hải quan Hải Phòng trong vấn đề ký hồ (tờ khai xuất khẩu-nhập khẩu).

Trả lời:

Theo công văn số 16529/BTC-TCHQ ngày 3/12/2010 về việc hướng dẫn bổ sung một số nội dung quy định tại Thông tư 222/2009/TT-BTC điểm 4 của công văn có nêu:

“Trường hợp một tờ khai có nhiều dòng hàng, phải sử dụng phụ lục tờ khai hải quan điện tử in, nếu số lượng Phụ lục từ 2 (hai) tờ trở lên, người khai hải quan có thể:

+ Ký tên, đóng dấu doanh nghiệp lên từng tờ phụ lục;

+ Ký tên, đóng dấu doanh nghiệp vào tờ phụ lục cuối cùng, các tờ phụ lục phải được đóng dấu giáp lai với nhau”.

Công ty chúng tôi thực hiện theo hướng ký tên đóng dấu vào tờ phụ lục cuối cùng, các tờ phụ lục khác được đóng dấu giáp lai với nhau vì số lượng phụ lục tờ khai có bộ hồ sơ lên tới 100 tờ. Nhưng phía Hải quan Hải Phòng không đồng ý và yêu cầu công ty ký, đóng dấu lên từng phụ lục.

Công ty đề nghị được Hải quan Hải Phòng cho phép sử dụng cách làm thứ 2 trong công văn 16259/BTC-TCHQ để giảm thiểu thời gian cho doanh nghiệp và tránh sai sót đối với hồ sơ hải quan.

Trả lời:

Nội dung này đã được pháp lý hóa tại Điểm a Khoản 1 Điều 8 Thông tư 196/2012/TT-BTC như sau:

“Trường hợp một tờ khai hải quan điện tử in có 01 (một) phụ lục, người khai hải quan ký tên, đóng dấu trực tiếp lên bản phụ lục. Trường hợp một tờ khai hải quan điện tử có nhiều hơn 01 (một) phụ lục thì người khai hải quan ký tên, đóng dấu vào tờ phụ lục cuối cùng và toàn bộ các tờ phụ lục phải đóng dấu giáp lai”.

Tổng cục Hải quan sẽ đôn đốc các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thực hiện theo đúng quy định.

 

Câu hỏi 28:

Nên thống nhất mẫu “Phiếu tiếp nhận, bàn giao hồ sơ hải quan thủ tục hải quan điện tử”

Trả lời:

Trong thủ tục hải quan điện tử không có mẫu “Phiếu tiếp nhận, bàn giao hồ sơ hải quan”

Câu hỏi 29:                                                            

Hiện nay tại Chi cục Hải quan Phú Thọ vẫn thực hiện đăng ký điện tử theo quy trình sau:

Khai báo tại máy doanh nghiệp -> Nhân viên doanh nghiệp mang hồ sơ giấy đến Hải quan kiểm tra -> Chấp nhận khai báo.

Như vậy, đã xảy ra tình trạng doanh nghiệp muốn mở 1 tờ khai xuất khẩu phải 3 lần lên cơ quan Hải quan:

Lần 1: Đăng ký phụ kiện,

Lần 2: Đăng ký định mức,

Lần 3: Lấy dấu thông quan trên Tờ khai xuất khẩu.     

Trả lời:

Theo phản ánh của doanh nghiệp, quy trình thực hiện thủ tục hải quan đang thực hiện quy trình khai từ xa, không phải thủ tục hải quan điện tử. Đề nghị doanh nghiệp liên hệ với Chi cục Hải quan Phú Thọ để có hướng dẫn chi tiết khi muốn thực hiện thủ tục hải quan điện tử .

Câu hỏi 30:

Điều chỉnh thủ tục hải quan điện tử đối với tờ khai xuất khẩu tại chỗ. Không nên xuất trình tờ khai nhập khẩu tại chỗ bản chính để làm thủ tục hải quan đối với tờ khai xuất khẩu tại chỗ vì cơ quan Hải quan có thể kiểm tra tờ khai nhập khẩu bản chính về tính minh bạch thông qua mạng. Nếu phải xuất trình tờ khai xuất khẩu tại chỗ bản chính để làm thủ tục hải quan đối với tờ khai xuất khẩu tại chỗ thì cơ quan Hải quan cần điều chỉnh như sau: Tờ khai nhập khẩu tại chỗ bản chính phải có ký tên đóng dấu của Hải quan làm thủ tục xuất khẩu thì mới có thể thanh lý, hoàn thuế… (như vậy doanh nghiệp nhập khẩu bắt buộc gửi tờ khai nhập khẩu bản chính cho doanh nghiệp xuất khẩu nhanh chóng thuận lợi mà không phàn nàn). Hải quan làm thủ tục nhập khẩu tại chỗ phải làm thêm 1 bản Tờ khai nhập khẩu tại chỗ nữa cho doanh nghiệp làm thủ tục xuất khẩu tại chỗ nhanh chóng, thuận lợi.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 47 Thông tư 196/2012/TT-BTC, hồ sơ thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với thủ tục xuất khẩu tại chỗ không bao gồm “tờ khai nhập khẩu tại chỗ bản chính” mà chỉ yêu cầu người khai hải quan nộp 01 bản chụp “Thông báo về việc hoàn thành thủ tục nhập khẩu tại chỗ”.

Đề nghị doanh nghiệp nghiên cứu và thực hiện theo đúng quy định hiện hành.

Câu hỏi 31:                                                            

Đề nghị điều chỉnh cách thu lệ phí hải quan. Hiện nay đang thu lệ phí tờ khai hải quan bằng cách chuyển khoản ngân hàng, việc này khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian, rắc rối. Có thể thực hiện theo cách dán tem như cũ tốt hơn. Cần cập nhật thường xuyên lên Hệ thống cũng như gỡ xuống khỏi mạng số thuế mà doanh nghiệp đã nộp gồm thuế nhập khẩu, thuế GTGT, lệ phí tờ khai hải quan để khi doanh nghiệp mở tờ khai tại cửa khẩu đó hoặc cửa khẩu khác được nhanh chóng thuận lợi. Công ty đã gặp phải trường hợp khi mở tờ khai tại Hải Phòng thì hải quan kiểm tra thấy doanh nghiệp nợ thuế tại cửa khẩu TP. Hồ Chí Minh mặc dù doanh nghiệp đã đóng thuế đầy đủ.               

Trả lời:

Việc thu lệ phí thủ tục hải quan điện tử hiện đang được thực hiện theo tháng hoặc theo từng tờ khai. Về việc sử dụng tem lệ phí, cơ quan Hải quan đang nghiên cứu và sẽ ban hành công văn hướng dẫn ngay khi có quyết định.

Về việc cập nhật tình trạng nợ thuế của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan đang dần hoàn thiện Hệ thống kết nối với Kho bạc để có thể cập nhật thông tin nhanh nhất, giảm thiểu các trường hợp cập nhật muộn dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp khi đăng ký tờ khai.

Câu hỏi 32:

Hồ sơ đăng ký định mức hàng gia công quá nhiều giấy tờ:

- 02 bản định mức chung;

- 02 bản giải trình định mức (mỗi bản từ 1-5 trang);

- 02 bản thỏa thuận tỷ lệ hao hụt của khách hàng và doanh nghiệp;

- Bản sao giác mẫu sản phẩm (đối với hàng may mặc)

Kiến nghị: Việc đăng ký phụ kiện, định mức thực tế được Hải quan chấp nhận ngay trên hệ thống điện tử trong khoảng từ 15’-1 giờ đồng hồ mà doanh nghiệp không phải xuất trình ngay hồ sơ giấy. Doanh nghiệp in tờ khai xuất, nhập điện tử mang trực tiếp tới cửa khẩu xuất nhập mà không bị lấy dấu thông quan tại Chi cục Hải quan mở tờ khai.  

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 27 Thông tư 196/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc thông báo định mức, người khai hải quan chỉ phải tạo thông tin về định mức và gửi đến cơ quan Hải quan. Sau khi cơ quan Hải quan kiểm tra sẽ đưa ra 1 trong 3 quyết định như sau:

(1) Chấp nhận đăng ký định mức ngay. Trường hợp này người khai hải quan không phải nộp hay xuất trình bất kỳ chứng từ gì.

(2) Nếu còn nghi ngờ về các thông tin khai báo, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành kiểm tra hồ sơ định mức, bao gồm:

- Bảng định mức gia công in: 02 bản chính;

- Bản giải trình về cơ sở, phương pháp tính định mức của mã hàng kèm theo tài liệu thiết kế kỹ thuật của sản phẩm: 01 bản chụp.

(3) Nếu còn nghi ngờ về các thông tin khai báo, cơ quan Hải quan sẽ tiến hành kiểm tra thực tế định mức, bao gồm:

- 2 chứng từ đã nêu ở (2);

- Sổ sách, chứng từ có liên quan đến việc xác định định mức của mã sản phẩm doanh nghiệp đã đăng ký;

- Xuất trình sản phẩm để kiểm tra.

Như vậy, tùy thuộc vào từng mặt hàng, tùy thuộc vào mức độ chấp hành pháp luật của người khai hải quan, cơ quan Hải quan sẽ đưa ra các quyết định phù hợp khi tiếp nhận việc thông báo định mức của doanh nghiệp với mục tiêu đảm bảo quản lý hải quan, không phải trường hợp nào cũng phải xuất trình hồ sơ định mức như đã nêu. Đề nghị doanh nghiệp thực hiện theo đúng quy định hiện hành./.

 

 

Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+844) 39440833 (ext: 8624)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan