Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

Giới thiệu về Công ước Kyoto sửa đổi - hướng phát triển của Công ước và tác động của Công ước đối với Việt Nam

Phương Liên   26/02/2009 10:00 AM

Công ước quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan (Công ước Kyoto) ra đời năm 1973 và có hiệu lực năm 1974. Công ước bao gồm Thân quy định các nội dung về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan và 31 phụ lục quy định về từng loại hình thủ tục hải quan cụ thể. Cho đến tháng 5/2005 tổng số có 63 quốc gia và vùng lãnh thổ là bên tham gia Công ước.

Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại, khoa học kỹ thuật và công nghệ trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đòi hỏi thủ tục hải quan phải có thay đổi căn bản để vừa đảm bảo thuận lợi thương mại vừa tăng cường thực thi pháp luật hải quan. Tuy nhiên, Công ước Kyoto năm 1973 có nhiều hạn chế như chỉ cần tham gia ở mức độ tối thiểu, mức độ ràng buộc không cao, không tạo được chuyển biến mạnh mẽ về thủ tục hải quan ở các bên tham gia nên Tổ chức Hải quan Thế giới đã quyết định sửa đổi Công ước Kyoto năm 1973 và thông qua Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto năm 1973 vào tháng 6 năm 1999. Từ đây Công ước Kyoto có tên gọi mới là Công ước Kyoto sửa đổi. Hiện nay, Công ước Kyoto sửa đổi có 59 thành viên, Việt Nam là thành viên thứ 56 trước Montenegro, Malaysia và Mauritius.

Công ước Kyoto sửa đổi bao gồm: Nghị định thư sửa đổi, Thân công ước, Phụ lục tổng quát, Phụ lục chuyên đề và Hướng dẫn thực hành.

  • Nghị định thư sửa đổi. Nghị định thư sửa đổi là văn bản tuyên bố chính thức việc sửa dổi bổ sung Công ước 1973 và quy định các thủ tục để các quốc gia tham gia Công ước sửa đổi.
  • Thân công ước. Thân công ước sửa đổi là các quy định về cơ chế sửa đổi bổ sung Công ước, cơ chế quản lý Công ước thông qua Uỷ ban quản lý Công ước, cơ chế ràng buộc pháp lý và bảo lưu đối với bên tham gia Công ước; các quy định về các thủ tục hành chính khác.
  • Phụ lục Tổng quát: phụ lục Tổng quát bao gồm những quy định liên quan đến những thủ tục hải quan cốt lõi và được áp dụng cho tất cả phụ lục chuyên đề. Phụ lục tổng quát chia thành 10 chương bao gồm các chuẩn mực và các chuẩn mực chuyển tiếp đề cập đến các thủ tục khai báo kiểm tra chứng từ, hàng hoá, tính thuế, các biện pháp đảm bảo, cách thức cung cấp thông tin cho các bên liên quan, quy định về cơ chế khiếu nại các quyết định của hải quan…
  • Phụ lục chuyên đề: bao gồm 10 phụ lục, mỗi phụ lục gồm một số chương liên quan đến thủ tục đặc thù cho từng loại hình xuất nhập khác nhau như quá cảnh, tạm nhập tái xuất, kho ngoại quan, hành khách xuất nhập cảnh…
  • Hướng dẫn thực hành: Để giải thích và dễ dàng thực hiện Công ước, những hướng dẫn thực hành là văn bản không ràng buộc về mặt pháp lý, giúp cho các bên tham gia hiểu sâu hơn về Công ước và đưa ra những khuyến nghị và thông lệ về cách thức thực hiện.

 

Những thay đổi căn bản trong Công ước sửa đổi so với Công ước năm 1973, bao gồm: (i)Công ước quy định áp dụng tối đa công nghệ thông tin; (ii) Công ước quy định áp dụng kỹ thuật tiên tiến như quản lý rủi ro, kiểm tra trên cơ sở kiểm toán, các biện pháp bảo đảm và trao đổi thông tin trước khi hàng đến cho phép giải quyết được mâu thuẫn giữa đảm bảo tăng cường kiểm soát hải quan và tạo thuận lợi thương mại; (iii) Công ước yêu cầu tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa Hải quan và doanh nghiệp nhằm tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp tuân thủ pháp luật và ngược lại doanh nghiệp cam kết cộng tác chặt chẽ với Hải quan trong lĩnh vực kiểm soát và tăng cường pháp luật, (iv) Công ước có cấu trúc liên kết tạo ra hệ thống công cụ pháp lý lô gic và gắn kết giữa Thân, Phụ lục Tổng quát và 10 Phụ lục Chuyên đề, (v) Công ước có mức độ ràng buộc cao hơn đối với các thành viên Công ước, quy định cơ chế bảo lưu chặt chẽ, yêu cầu bên tham gia tối thiểu phải chấp nhận Thân và Phụ lục Tổng quát và không được phép bảo lưu với chuẩn mực và chuẩn mực chuyển tiếp. Bảo lưu chỉ được phép với khuyến nghị thực hành của phụ lục chuyên đề nhưng phải nêu lý do và phải xem xét bảo lưu định kỳ 3 năm 1 lần, (vi) Cơ chế sửa đổi và bổ sung thông qua Uỷ ban quản lý Công ước bao gồm các bên tham gia giúp Công ước vận động linh hoạt và luôn phù hợp thực tiễn của thương mại, (vii) Công ước cho phép thời gian quá độ là 3 năm với chuẩn mực và 5 năm với chuẩn mực chuyển tiếp kể từ khi Công ước có hiệu lực đối với bên tham gia.

Tuy nhiên, qua 10 năm tồn tại với rất nhiều thay đổi của thế giới nói chung, cộng đồng hải quan quốc tế nói riêng và với mong muốn biến Công ước trở thành một công cụ chuẩn quốc tế về các thủ tục hải quan hiện đại, hiệu quả trong thế kỷ 21, là tổng hoà của các công cụ tiến tiến do Tổ chức Hải quan Thế giới xây dựng gần đây, Công ước cần có sự đổi mới và cần thiết có sự sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp với bối cảnh phát triển hiện nay. Có nhiều khả năng tại Phiên họp lần 6 tới đây của Uỷ ban quản lý Công ước Kyoto sửa đổi, một số nội dung sẽ được Uỷ ban thảo luận và thông qua để bổ sung vào Công ước. Cụ thể là các vấn đề:

a.       Các yêu cầu thông tin trước về hàng hoá: Chuẩn mực 3.25 của Phụ lục Tổng quát và Phụ lục chuyên đề A, chương 1 về các thủ tục trước khi nộp tờ khai hàng hoá cũng đã đề cập tới nội dung này nhưng chưa kỹ, chưa sâu. Vì vậy, hướng tới đây Uỷ ban sẽ cân nhắc làm rõ thêm nội dung này trong Phụ lục Tổng quát của Công ước.

b.       Cơ chế Một cửa: Đây là một khái niệm rất quan trọng để tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin giữa doanh nghiệp và Hải quan. Một cửa là công cụ để đơn giản hoá các yêu cầu thông tin và sẽ không thể hoạt động nếu không có sự hài hoà hoá các dữ liệu. Khái niệm Một cửa cần được đưa vào trong Chương 7 - Phụ lục Tổng quát như một khái niệm áp dụng cho việc trao đổi dữ liệu điện tử giữa Hải quan và Doanh nghiệp. Một cửa cũng sẽ tạo điều kiện để các cơ quan kiểm soát biên giới phối hợp, quản lý rủi ro.

c.       Doanh nghiệp được ưu tiên (AEO): AEO là một công cụ quan trọng để vừa tạo thuận lợi vừa đảm bảo an ninh cho chuỗi cung ứng quốc tế. Thực ra, khái niệm AEO cũng đã được Phụ lục Tổng quát - Công ước Kyoto sửa đổi đề cập trong Chuẩn mực 3.32 về các thủ tục đặc biệt đối với người được ưu tiên và Chương 8 về mối quan hệ giữa Hải quan và các bên thứ ba.  Tuy nhiên, những quy định về AEO cần được phát triển hơn nữa trong phần Hướng dẫn chương 3 và chương 8 Phụ lục Tổng quát.

d.       Chuẩn hoá và hài hoà hoá dữ liệu: Tại thời điểm Công ước Kyoto sửa đổi được thông qua, người ta cho rằng quy định tại Chuẩn mực 7.2 – Chương 7 Phụ lục Tổng quát về sử dụng các chuẩn mực quốc tế trong chuẩn hoá và hài hoà hoá dữ liệu như vậy đã là đủ. Tuy nhiên, chỉ sau khi Công ước được thông qua thì Tổ chức Hải quan Thế giới mới xây dựng xong mẫu dữ liệu WCO. Cho đến nay, chưa có sự nhấn mạnh, ràng buộc nào về việc tham chiếu thích đáng chuẩn mực 7.2 với Mẫu dữ liệu này. Do vậy, hướng tới đây, mẫu dữ liệu WCO sẽ được xem xét để xây dựng thành một bản Khuyến nghị và phần Hướng dẫn chuẩn mực 7.2 sẽ tham chiếu tới bản Khuyến nghị này.

e.       Ngoài ra, một số khái niệm, nội dung khác cũng có thể được thảo luận để bổ sung, giải thích chi tiết hơn trong Công ước như: công nhận lẫn nhau về kiểm soát hải quan, công nhận lẫn nhau về các chương trình AEO, hợp tác của các cơ quan quản lý biên giới, chuối cung ứng quốc tế và phương pháp quản lý tích hợp, các luồng thương mại thông minh và an toàn, phương pháp kiểm tra không phá mẫu, các kỹ thuật niêm phong tiên tiến… 

Như vậy, khả năng không tránh khỏi là Công ước Kyoto sửa đổi sẽ lại được sửa đổi, bổ sung để cập nhật được những tiến bộ mới trong công tác quản lý hải quan.

Việt Nam chính thức gia nhập Nghị định thư sửa đổi Công ước Kyoto vào ngày 08/01/2008 và Công ước đã có hiệu lực với Việt Nam vào ngày 08/04/2008. Việc gia nhập Công ước Kyoto sửa đổi là việc làm tích cực để thể hiện quan điểm chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam, đẩy mạnh việc thực hiện cải cách thể chế và tài chính công theo Chương trình cải cách hành chính quốc gia và Chương trình hiện đại hoá Hải quan đã được Chính phủ phê duyệt

Về chính trị, gia nhập Công ước Kyoto sửa đổi thể hiện nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và quốc tế. Đặc biệt việc gia nhập và áp dụng Công ước Kyoto sửa đổi có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong WTO vì thực chất thực hiện Công ước Kyoto sửa đổi là thực hiện các quy định tại Điều 5, 7, 8, 10 của Hiệp định GATT/WTO.

Về kinh tế, tham gia Công ước Kyoto sửa đổi là góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách thủ tục hành chính theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm đẩy mạnh thương mại, khuyến khích xuất khẩu, thu hút đầu tư và du lịch quốc tế vào Việt Nam, mang lại lợi tích cho người tiêu dùng, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu của cộng đồng doanh nghiệp.

Về nghiệp vụ Hải quan, Công ước Kyoto sửa đổi là công cụ pháp lý hiệu quả để giải quyết các mâu thuẫn khi thực hiện nhiệm vụ của ngành Hải quan như nhu cầu công việc ngày càng tăng trong khi nguồn lực còn hạn chế; vừa phải tăng cường kiểm soát hải quan lại vừa phải tạo thuận lơi cho thương mại. Việc tham gia Công ước đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của Tổ chức Hải quan Thế giới cũng như các thành viên của Công ước trong việc đẩy mạnh cải cách, hiện đại hoá hoạt động hải quan.

Công ước Kyoto sửa đổi là hệ thống tiêu chuẩn về đơn giản và hài hoà thủ tục hải quan cho các tổ chức quốc tế, các diễn đàn hợp tác khu vực và thể giới như ASEAN, APEC, ASEM, WTO, WCO. Do vậy, tham gia Công ước cũng góp phần để Việt Nam hoàn tất trách nhiệm của mình tại các tổ chức này.

Trước khi gia nhập Công ước Kyoto sửa đổi, Việt Nam đã dần chuyển hoá một số quy định của Công ước vào hệ thống văn bản pháp luật hải quan, cụ thể là Luật sửa đổi bổ sung một số điều luật Hải quan năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Trong quá trình chuẩn bị gia nhập, Việt Nam cũng đã xây dựng một Kế hoạch hành động cụ thể cho việc thực hiện Công ước ngay sau khi Công ước có hiệu lực. Tuy nhiên, để hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ thành viên Công ước, đòi hỏi các Bộ, ngành có liên quan, đặc biệt là Hải quan Việt Nam phải có những nỗ lực rất nhiều để vượt khó. Cụ thể đó là những thách thức về yêu cầu nội luật hoá, phải điều chỉnh hệ thống luật pháp liên quan để tương thích với các chuẩn mực và chuẩn mực chuyển tiếp trong thời gian từ 3 năm đến 5 năm tính từ khi Công ước có hiệu lực với Việt Nam. Đó là yêu cầu cơ chế xử lý linh hoạt với các vấn đề bổ sung và sửa đổi của Công ước. Thông qua Ủy ban quản lý Công ước, các sửa đổi bổ sung có hiệu lực sau 12 tháng đối với Thân công ước và sau 6 tháng đối với Phụ lục tổng quát và các phụ lục chuyên đề khi không có bên tham gia nào phản đối. Đó còn là thực trạng cơ sở hạ tầng Việt Nam so với yêu cầu của Công ước, những hạn chế về công nghệ thông tin và yêu cầu chuyển đổi phương pháp quản lý, chuyển đổi từ thủ công sang áp dụng công nghệ thông tin, tự động hóa, từ kiểm tra toàn bộ sang kiểm tra có phân loại và chọn lọc, từ kiểm tra các giao dịch sang kiểm tra trên cơ sở kiểm toán; v.v lấy tiêu chí phục vụ để phát triển và hoàn thiện, nâng cao năng lực trình độ cán bộ. Ngoài ra, môi trường quản lý hải quan hiện đại đòi hỏi xây dựng mối liên hệ gắn liền giữa khu vực công và khu vực tư và một cơ chế phối hợp trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm giữa các bên hữu quan.

Với những lợi ích và thách thức nêu trên, Việt Nam đã và đang tăng cường được hình ảnh, uy tín trên các diễn đàn thế giới, được sự ủng hộ của các tổ chức quốc tế nói chung, Tổ chức Hải quan Thế giới nói riêng và điều đó càng khuyến khích nỗ lực thực hiện đẩy đủ các quy định của Công ước, tạo cơ sở căn bản và vững chắc cho sự nghiệp Hiện đại hoá Ngành Hải quan.

Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+844) 39440833 (ext: 8624)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan