Hải quan Việt Nam
Tìm kiếm thông tin hoạt động:
Tìm!
Liên kết đến dịch vụ thư điện tử
Danh muc Hang hoa XNK Viet nam 2012 theo Thong tu 156
Tra cứu văn bản quy phạm pháp luật
Hộp thư phản ánh cải cách hành chính và chống tiêu cực
Logo liên kết sang ứng dụng email nghành Hải quan
Tài liệu Đào tạo & phát triển, Quản lý nguồn nhân lực, Đạo đức & liêm chính Hải quan ASEAN
Định hướng và kế hoạch triển khai hải quan điện tử 2011-2015
Nguyễn Hà – Phòng CNTT - 22/09/2011 4:00 PM
Cán bộ Hải quan vận hành hệ thống tại Trung tâm cơ sở dữ liệu Hải quan Hà Nội.

Hải quan Việt Nam xác định đến năm 2020 sẽ trở thành “Hải quan mọi lúc mọi nơi” nghĩa là cán bộ Hải quan làm việc mọi lúc mọi nơi và người khai hải quan thực hiện thủ tục mọi lúc mọi nơi. Để đạt được mục tiêu đó, trong giai đoạn 2011-2015 ngành Hải quan đặt ra những chỉ tiêu cụ thể và quan trọng phải đạt được nhằm tạo nền tảng cho giai đoạn tới.

Hải quan điện tử giai đoạn 2011-2015

Trong năm 2011, đối với 13 cục Hải quan tỉnh, thành phố được nêu tại Quyết định 103/2009/QĐ-TTg, hải quan điện tử sẽ được triển khai ở tất cả các loại hình được quy định trong Thông tư 222/2009/TT-BTC, tại 100% các Chi cục, đạt tỷ lệ 80% kim ngạch và tờ khai thông qua hải quan điện tử đến giai đoạn cuối năm 2011. Đối với các cục Hải quan còn lại, sẽ tiếp tục triển khai tại 7 đơn vị (Cục Hải quan Long An, Nghệ An, Thanh Hóa, Tây Ninh, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Nam), trong đó mỗi đơn vị lựa chọn từ 1-2 Chi cục Hải quan có khối lượng công việc lớn để thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong năm 2011. Hoàn thành việc tổng kết thí điểm thủ tục hải quan điện tử theo Quyết định 103/2009/QĐ-TTg báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Ngành Hải quan cũng sẽ áp dụng thủ tục hải quan điện tử cho các doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt sau khi Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và Tổng cục Hải quan công nhận.

Trong giai đoạn 2011-2015, ngành tích cực triển khai Đề án Quản lý rủi ro, trong đó trọng tâm vào việc nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý rủi ro cả trước, trong và sau thông quan.

Xây dựng các địa điểm kiểm tra hàng hoá tập trung tại các địa bàn trọng điểm (cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu đường bộ quốc tế, các khu kinh tế trọng điểm) theo quy hoạch được duyệt; đầu tư hệ thống máy móc trang thiết bị hiện đại phục vụ công tác kiểm tra giám sát (máy soi container, máy soi hành lý, hệ thống camera giám sát, bộ công cụ hỗ trợ...).

Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt sẽ được triển khai phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và điều kiện đặc thù của Việt Nam. Đồng thời, Hải quan Việt Nam cũng xây dựng và vận hành hệ thống Chỉ số đánh giá hoạt động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của toàn ngành cũng như của các đơn vị hải quan trong ngành đối với một số lĩnh vực cơ bản.

5 trụ cột xây dựng Hải quan điện tử

Nhằm hướng tới một “Hải quan mọi lúc, mọi nơi” vào năm 2020 (công chức hải quan có thể làm việc mọi lúc mọi nơi; người khai hải quan có thể thực hiện thủ tục hải quan, được cung ứng dịch vụ hải quan mọi lúc, mọi nơi) thì giai đoạn từ nay đến 2015, việc triển khai thủ tục hải quan điện tử được đẩy mạnh không chỉ trong nội bộ ngành Hải quan mà với cả các cơ quan ban ngành, các tổ chức và cộng đồng doanh nghiệp bên ngoài, tập trung vào 5 trụ cột.

Thứ nhất là eClearance: Thông quan điện tử;

Thứ hai là eManifest: Tiếp nhận thông tin bản lược khai hàng hóa và các chứng từ liên quan, thực hiện thông quan phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, tiến tới thông quan trước khi hàng đến;

Thứ ba là ePermit: Quản lý và trao đổi thông tin giấy phép, C/O điện tử;

Thứ tư là ePayment: Thanh toán thuế điện tử;

Thứ năm là eOffice: Quản lý văn phòng điện tử.

Đây cũng là nền tảng cho triển khai cơ chế một cửa quốc gia, một cửa Asean và thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Giải pháp toàn diện

Để đạt được những mục tiêu lớn trong giai đoạn 2011-2015 và hướng tới năm 2020, ngành Hải quan sẽ tiến hành cải cách toàn diện ở 9 khía cạnh.

Thứ nhất về thể chế, ngành Hải quan sẽ xây dựng trình Quốc hội ban hành Luật Hải quan mới và các văn bản hướng dẫn thi hành để hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhà nước về hải quan theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội, của đất nước và phù hợp với cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đảm bảo sự đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản pháp luật.

Thứ hai là đơn giản, hài hòa chế độ quản lý hải quan, tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ quốc tế; Chuyển đổi mạnh mẽ phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức thủ công sang phương thức điện tử trên cơ sở áp dụng đầy đủ e-Manifest, e-Clearance, e-Payment, e-Permits, e-C/O; từng bước áp dụng mô hình xử lý dữ liệu điện tử thông quan tập trung; Áp dụng chế độ ưu đãi đặc biệt cho các doanh nghiệp có độ tuân thủ cao, các quy định về can thiệp bằng ngoại lệ và tuân thủ sau thông quan.

Thứ ba là nâng cao trình độ, năng lực quản lý thuế của Hải quan Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực. Đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch, khả thi, hiệu quả, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế. Ngành sẽ tập trung vào một số công việc cụ thể như: Sửa các quy định về thủ tục quản lý thuế; sửa quy định về ân hạn thuế; bổ sung cơ chế bảo lãnh; sửa các quy định về giá tính thuế; sửa đổi hoàn thiện danh mục biểu thuế; bổ sung các quy định thực hiện thanh toán thuế bằng phương thức điện tử.

Thứ tư là nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát hải quan góp phần hiệu quả vào việc bảo vệ an ninh quốc gia, an toàn sức khoẻ cộng đồng, chống thất thu thuế, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, đảm bảo thực hiện tuân thủ chính sách của nhà nước đối với các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh.

Thứ năm là thúc đẩy công tác Kiểm tra sau thông quan nhằm đạt trình độ chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu quả, dựa trên nguyên tắc áp dụng quản lý rủi ro; chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, tiến tới thay thế dần kiểm tra trong thông quan. Quy trình kiểm tra sau thông quan đầy đủ, tương đối chuẩn mực trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Đến 2015, hoạt động kiểm tra của hải quan chủ yếu là kiểm tra sau thông quan.

Thứ sáu là xây dựng và triển khai hệ thống chỉ số để đánh giá hiệu quả hoạt động của toàn ngành cũng như của các đơn vị hải quan trong ngành đối với một số lĩnh vực cơ bản.

Thứ bảy, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu quản lý hải quan hiện đại dựa trên mô hình thủ tục hải quan điện tử, hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, xử lý dữ liệu thông quan tập trung, áp dụng toàn diện kỹ thuật quản lý rủi ro và sử dụng tối đa, có hiệu quả các trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại.

Thứ tám là xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hải quan tích hợp đáp ứng các yêu cầu nghiệp vụ. Thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo hướng xử lý dữ liệu điện tử tập trung trên mô hình kiến trúc theo hướng dịch vụ, đóng vai trò cốt lõi của hệ thống công nghệ thông tin thuộc cơ chế một cửa quốc gia; phát triển và duy trì hoạt động ổn định của hạ tầng truyền thông, kết nối các đơn vị trong ngành hải quan và với các cơ quan có liên quan, đảm bảo đáp ứng yêu cầu về băng thông và khả năng dự phòng.

Cuối cùng là đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ yêu cầu công tác quản lý của ngành.

                          Ngành Hải quan trang bị kỹ thuật hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý. Trong ảnh: Cán bộ Cục Hải quan TP Hà Nội vận hành hệ thống camera giám sát hành khách tại sân bay quốc tế Nội Bài.

                  Cán bộ Hải quan vận hành hệ thống camera giám sát hành khách

                                                 tại sân bay quốc tế Nội Bài

Nguyễn Hà – Phòng CNTT
Tin liên quan:
 
© Bản quyền 2008 Tổng cục Hải Quan
Số phép số: 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/3/2007
Địa chỉ: Lô E, Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: +84.04.44520606 - ext: 8624. Email: webmaster@customs.gov.vn