Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU HÀNG HOÁ CỦA VIỆT NAM THÁNG 01 NĂM 2011

Số liệu thống kê Hải quan Việt Nam  18/02/2011 5:00 PM

1. Đánh giá chung.

Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong tháng 01/2011 đạt 15,06 tỷ USD, tăng 37,3% so với tháng 01/2010; trong đó xuất khẩu đạt 7,09 tỷ USD, tăng 41,4% và nhập khẩu 7,97 tỷ USD, tăng 33,7%. Từ kết quả xuất nhập khẩu này tính toán cho thấy thâm hụt cán cân thương mại hàng hóa trong tháng là 877 triệu USD, bằng 12,4% tổng kim ngạch xuất khẩu và giảm 32,2% so với mức nhập siêu của tháng 12/2010.

Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, nhập siêu của Việt Nam

từ tháng 01/2010 đến tháng 01/2011

Trong tháng 01/2011, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 6,79 tỷ USD, giảm 5,9% so với tháng 12/2010 và tăng 42% so với tháng 01/2010, trong đó kim ngạch xuất khẩu của khối này đạt 3,45 tỷ USD, giảm 1,3% so với tháng 12/2010 và tăng 44,6% so với tháng 01/2010; kim ngạch nhập khẩu là hơn 3,33 tỷ USD, giảm 10,3% so với tháng 12/2010 và tăng 39,3% so với tháng 01/2010.

2. Một số mặt hàng xuất khẩu chính

- Hàng dệt may: kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của nước ta trong tháng 1/2011 cao nhất từ trước tới nay, đạt 1,25 tỷ USD, tăng 5,9% so với tháng 12/2010 và tăng 54,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 776 triệu USD, với mức tăng lần lượt là 9,4% và 56,4%.

Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản tiếp tục là 3 đối tác lớn nhất nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam với kim ngạch và tốc độ tăng so với cùng kỳ năm 2010 lần lượt là 659 triệu USD và 40,8%; 241 triệu USD và 75,6%; 133 triệu USD và 71,1%.  Ngoài ra, xuất khẩu hàng dệt may trong tháng sang thị trường Hàn Quốc cũng đạt mức tăng trưởng ấn tượng, với kim ngạch đạt 71,2 triệu  USD, tăng tới 162% so với tháng 1/2010. Tính chung, tổng kim ngạch hàng dệt may xuất sang 4 thị trường này đạt 1,1 tỷ USD, chiếm hơn 88% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước.

- Giày dép các loại: tháng 12/2010, hàng giày dép xuất khẩu xác lập ngưỡng kỷ lục mới, với kim ngạch đạt trên 500 triệu USD/tháng. Bước sang năm 2011, tháng khởi đầu vẫn duy trì ngưỡng kỷ lục này, đạt gần 555 triệu USD, tăng 37,8% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, trị giá xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 377 triệu USD, chiếm 68% tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng giày dép của cả nước.

Các đối tác thương mại chính nhập khẩu nhóm mặt hàng này của Việt Nam là EU với 248 triệu USD, tăng 24,3%; Hoa Kỳ: 140 triệu USD, tăng 49,5%; Nhật Bản: 31,5 triệu USD, tăng 98% và Trung Quốc: 16,2 triệu USD, tăng 81,9% so với cùng kỳ năm 2010.

- Gỗ và sản phẩm gỗ: kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong tháng là 348 triệu USD, giảm nhẹ 2% so với tháng 12/2010 và tăng 21,5% so với tháng 1 năm 2010.

Trong tháng đầu tiên của năm 2011, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường nhập khẩu nhóm mặt hàng này nhiều nhất của Việt Nam với 118 triệu USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2010. Thị trường EU nhập khẩu 90,2 triệu USD, giảm 14,2%; Nhật Bản: 49,1 triệu USD, tăng 31,6%; Trung Quốc: 31,7 triệu USD, tăng 25,1%...so với cùng kỳ năm 2010.

- Thuỷ sản: xuất khẩu trong tháng đạt gần 435 triệu USD, giảm 15,4% so với tháng 12/2010 và tăng 39,1% so với tháng 01/2010.

Xuất khẩu thuỷ sản của nước ta trong tháng đầu của năm 2011 sang EU đạt 108 triệu USD, tăng 38%; sang Hoa Kỳ đạt 84 triệu USD, tăng 88%; sang Nhật Bản đạt 68 triệu USD, tăng 37%; sang Hàn Quốc đạt gần 35 triệu USD, tăng 35,6%  so với tháng 01/2010. Tổng giá trị thuỷ sản xuất khẩu sang 4 thị trường này đạt 294 triệu USD, chiếm 67,7% tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nước.

- Dầu thô: lượng xuất khẩu dầu thô trong tháng là hơn 618 nghìn tấn, giảm 13,5% so với tháng 12/2010 và giảm 23,5% so với tháng 01/2010. Kim ngạch xuất khẩu đạt 464 triệu USD, giảm 8,2% so với tháng 12/2010 và giảm 4,3% so với tháng 01/2010.

Trong tháng 01/2011, xuất khẩu dầu thô của nước ta được đẩy mạnh sang hai thị trường là Hàn Quốc và Trung Quốc với lượng xuất khẩu lần lượt là 209 nghìn tấn và 111 nghìn tấn; trong khi với thị trường truyền thống là Ôxtrâylia lượng xuất khẩu chỉ đạt 159 nghìn tấn, giảm 35,7% so với tháng 01/2010;…

-  Gạo: xuất khẩu gạo trong tháng đạt gần 541 nghìn tấn với trị giá là 282 triệu USD, tăng 8,3% về lượng và tăng 8,6% về trị giá so với tháng 12/2010. So với tháng 01/2010, xuất khẩu gạo của Việt Nam tăng 42,1% về lượng và tăng 37,6% về trị giá.

Trong tháng 1/2011, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang: Inđônêxia đạt 203 nghìn tấn; Bănglađét đạt 110 nghìn tấn; Cuba đạt 47,8 nghìn tấn; Malaysia: 47,7 nghìn tấn;…

- Cao su: lượng xuất khẩu trong tháng đạt 75,5 nghìn tấn với trị giá 332 triệu USD, giảm 25,2% về lượng và giảm 15,3% về trị giá so với tháng 12/2010 nhưng so với tháng 01/2010, xuất khẩu cao su tăng mạnh 58,1% về lượng và 182% về trị giá.

Trung Quốc vẫn là thị trường dẫn đầu về nhập khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 01/2011 với 47,4 nghìn tấn, tăng 20,4%, tiếp theo là Malaixia: 4,4 nghìn tấn, tăng 95,5%; Hàn Quốc: 34,7 nghìn tấn, tăng 22,4%; Đài Loan: 31,9 nghìn tấn, tăng 27,5%; Đức: 27,8 nghìn tấn, tăng 29,9%; …so với tháng 1/2010.

-  Sắt thép các loại: Lượng sắt thép xuất khẩu trong tháng đạt 167 nghìn tấn, tăng 86,2% và kim ngạch đạt 136 triệu USD, tăng 120% so với cùng kỳ năm 2010.

Các thị trường nhập khẩu sắt thép các loại của Việt Nam trong tháng qua là: Campuchia: 33,8 nghìn tấn, Trung Quốc: 30,2 nghìn tấn, Inđônêxia: 20,8 nghìn tấn, Malaixia: 7,4 nghìn tấn,…

 3. Một số mặt hàng nhập khẩu chính

- Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng: tháng 1/2011, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này là 1,26 tỷ USD, giảm 8,4% so với tháng trước và tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2010.

Các thị trường chính cung cấp nhóm hàng này cho Việt Nam trong tháng qua là: Trung Quốc: 499 triệu USD, tăng 21,1%; Nhật Bản: 179 triệu USD, tăng 13,3%; Hàn Quốc: 113 triệu USD, tăng 62,2%; Đức: 75,8 triệu USD, giảm 10%; Đài Loan: 62,3 triệu USD, tăng 2,3%; Hoa Kỳ: 55,2 triệu USD, giảm 5,4%...so với cùng kỳ năm 2010.

- Nhóm hàng nguyên liệu, phụ liệu ngành dệt may, da, giày: trong tháng, nhập khẩu nhóm hàng này đạt 877 triệu USD, giảm 12,4% so với tháng 12/2010 và tăng tới 45,7% so với tháng 1/2010. Trong đó, trị giá vải nhập khẩu là: 459 triệu USD, nguyên phụ liệu: 188 triệu USD, xơ sợi dệt: 126 triệu USD và bông là 104 triệu USD.

Tháng 1/2011, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ thị trường: Trung Quốc dẫn đầu với 285 triệu USD, tăng 60,6%;  Hàn Quốc: 143 triệu USD, tăng 32%; Đài Loan: 142 triệu USD, tăng 28,9%; Hồng Kông: 38,4 triệu USD, tăng 20,6%; Nhật Bản: 38,8 triệu USD, tăng 21,9%… so với cùng kỳ năm 2010. Tổng trị giá nhập khẩu từ 5 thị trường này là 647 triệu USD, chiếm 73,7%  tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước.

- Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện: nhập khẩu trong tháng là 524 triệu USD, giảm 3,9% so với tháng trước và tăng 41,4% so với cùng kỳ năm 2010.

Việt Nam nhập khẩu mặt hàng này chủ yếu có xuất xứ từ: Hàn Quốc: 165 triệu USD, tăng gấp gần 3 lần; Trung Quốc: 157 triệu USD, tăng 31,1%; Nhật Bản: 70 triệu USD, giảm 3,1%; Malaixia: 34,4 triệu USD, tăng 27,1%...so với tháng 1 năm 2010.

- Sắt thép các loại: lượng nhập khẩu sắt thép trong tháng là 533 nghìn tấn với trị giá 413 triệu USD, giảm 12,5% về lượng và tăng 27,4% về trị giá so với tháng 1/2010.Trong đó, lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng là 105 nghìn tấn và trị giá là 61,3 triệu USD.

Các đối tác chính cung cấp mặt hàng sắt thép cho Việt Nam trong tháng 1 năm 2011 như  Hàn Quốc: 170 nghìn tấn, tăng 89,1%; Trung Quốc: 61,9 nghìn tấn, giảm 27,8%; Nhật Bản: 159 nghìn tấn, tăng 74,8%; Đài Loan: 46,6 nghìn tấn, giảm 21,8%... so với cùng kỳ năm 2010.

- Chất dẻo nguyên liệu: trong tháng nhập khẩu 195 nghìn tấn với trị giá là 344 triệu USD, tăng 15,6% về lượng và 36,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2010.

Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng chất dẻo nguyên liệu trong tháng 1/2011 có xuất xứ chủ yếu từ thị trường Hàn Quốc: 35,8 nghìn tấn, Đài Loan: 28,4 nghìn tấn, Thái Lan: 22,7 nghìn tấn, Singapore: 14,2 nghìn tấn, Trung Quốc: 12,7 nghìn tấn,

- Xăng dầu các loại: lượng nhập khẩu xăng dầu ở mức cao nhất kể từ tháng 11/2009 với 1,05 triệu tấn, trị giá 824 triệu USD, tăng 27,2% về lượng và tăng 35% về trị giá so với tháng trước.

Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam trong  tháng qua chủ yếu có xuất xứ từ: Singapore với 513 nghìn tấn, Đài Loan: 153 nghìn tấn, Cô oét: 97 nghìn tấn, Hàn Quốc: 95 nghìn tấn, Trung Quốc: 66 nghìn tấn,…

- Thức ăn gia súc và nguyên liệu: nhập khẩu nhóm hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt kim ngạch cao nhất kể từ tháng 4/2010 với 228 triệu USD, tăng 26,5% so với tháng 12/2010 và tăng 53,2% so với cùng kỳ năm 2010.

Việt Nam nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chủ yếu có xuất xứ từ: Ấn Độ: 97 triệu USD, tăng 53,6%; Achentina với 45 triệu USD, tăng mạnh 124%; Hoa Kỳ: 18 triệu USD, giảm 37,5%; Trung Quốc: 9,4 triệu USD, giảm 19%;…so với cùng kỳ năm 2010.

- Ôtô nguyên chiếc: Trong tháng này, Việt Nam nhập khẩu hơn 6,1 nghìn chiếc ô tô nguyên chiếc các loại, trong đó lượng ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống là hơn 4,9 nghìn chiếc, tăng 7,5% so với tháng trước và tăng gấp 2,1 lần so với tháng 1/2010.

Biểu đồ 2: Diễn biến lượng nhập khẩu ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống từ tháng 1/2010 đến tháng 01/2011

Việt Nam vẫn nhập khẩu ô tô 9 chỗ ngồi trở xuống vẫn chủ yếu từ các thị trường truyền thống như Hàn Quốc với 2,5 nghìn chiếc, Nhật Bản: 711 chiếc, Đài Loan: 540 chiếc, Hoa Kỳ: 538 chiếc, Đức: 151 chiếc,…

- Xe máy nguyên chiếc: lượng nhập khẩu mặt hàng trong tháng ở mức cao nhất từ tháng 4/2009 với gần 16,6 nghìn chiếc, trị giá 27,8 triệu USD. Trong tháng, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu xe máy từ Italia với gần 9,9 nghìn chiếc, còn lại là nhập khẩu các thị trường như: Thái Lan: 4,95 nghìn chiếc; Trung Quốc: 1,66 nghìn chiếc,… 

 

Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+844) 39440833 (ext: 8623)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan