Trang chủ  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH

Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008 chính thức có hiệu lực

An Hùng  19/01/2009 3:00 PM
Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật năm 2008 do Quốc hội khóa XII ban hành ngày 3/6/2008 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2009. Luật gồm có 12 chương với 95 điều, thay thế cho Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.

Theo quy định của Luật Ban hành Văn bản Quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2008, VBQPPL là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là VBQPPL.

 

Về thẩm quyền ban hành VBQPPL.

Theo quy định tại Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008, hệ thống VBQPPL của cơ quan nhà nước gồm có:

- Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

- Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

- Nghị định của Chính phủ.

- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thông tư của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.

- Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

- Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

 - Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước.

- Nghị quyết liên tịch giữa Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.

- Thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

- VBQPPL của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

Như vậy, so với luật cũ thì một số loại văn bản sau đây không còn được ban hành dưới dạng VBQPPL:

-          Nghị quyết của Chính phủ;

-          Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ;

-          Chỉ thị của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ;

-          Quyết định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

Căn cứ các quy định trên, kể từ ngày 01/01/2009, VBQPPL đã được ban hành dưới 4 hình thức nêu trên vẫn tiếp tục có hiệu lực thi hành cho đến khi bị bãi bỏ, hủy bỏ hoặc thay thế bằng VBQPPL khác. Đối với các dự thảo VBQPPL dự kiến ban hành dưới 04 hình thức trên, nếu chưa được ký ban hành trước ngày 01/01/2009 thì chuyển sang hình thức VBQPPL tương ứng để trình ký ban hành, cụ thể:

Ngoài ra, Luật mới còn thêm 2 loại văn bản là: Quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước (được ban hành để qui định, hướng dẫn các chuẩn mực kiểm toán nhà nước, qui định cụ thể qui trình kiểm toán, hồ sơ kiểm toán) và Nghị quyết Liên tịch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội (để hướng dẫn thi hành những vấn đề khi tổ chức chính trị - xã hội tham gia quản lý nhà nước).

 

Về đề nghị, kiến nghị về luật, pháp lệnh và nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo

Theo quy định tại Điều 23 và Điều 33 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 thì:

- Đề nghị xây dựng Luật, Pháp lệnh, ngoài các hồ sơ đề xuất như đã quy định còn phải kèm theo báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản (Điều 23).

- Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức xây dựng báo cáo đánh giá tác động của dự thảo văn bản, trong báo cáo phải nêu rõ các vấn đề cần giải quyết và các giải pháp đối với từng vấn đề, chi phí, lợi ích của các giải pháp; so sánh chi phí, lợi ích của từng giải pháp (Khoản 2 Điều 33).

Căn cứ các quy định trên, việc xây dựng báo cáo đánh giá tác động sơ bộ, báo cáo đánh giá tác động đầy đủ phải được đơn vị chủ trì tiến hành đồng thời với quá trình đề nghị chương luật, pháp lệnh và quá trình soạn thảo luật, pháp lệnh để bảo đảm có đủ hồ sơ khi trình cấp có thẩm quyền quyết định.

 

Việc xây dựng, ban hành VBQPPL theo trình tự thủ tục rút gọn

Theo quy định tại các điều từ Điều 75 đến Điều 77 của Luật ban hành VBQPPL năm 2008:

- Đối với các văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Quốc hội, UBTV Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong trường hợp khẩn cấp hoặc cần sửa đổi ngay cho phù hợp với các VBQPPL mới được ban hành thì các văn bản nêu trên có thể được soạn thảo, trình ký theo thủ tục rút gọn.

- Việc quyết định ban hành văn bản theo thủ tục rút gọn do cấp có thẩm quyền ban hành VBQPPL quyết định.

- Theo thủ tục rút gọn, không nhất thiết phải thành lập Ban soạn thảo, cơ quan soạn thảo có thể tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về dự thảo văn bản; Cơ quan thẩm định và cơ quan thẩm tra văn bản tiến hành thẩm định, thẩm tra văn bản ngay sau khi nhận được hồ sơ thẩm định, thẩm tra văn bản.

- Hồ sơ trình văn bản theo thủ tục rút gọn theo quy định đại Điều 76 gồm: Tờ trình về dự án, dự thảo,dự thảo văn bản, báo cáo thẩm định đối với dự thảo nghị định của Chính phủ, dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; báo cáo thẩm tra đối với dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

- Việc xem xét thông qua dự án, dự thảo VBQPPL theo trình tự, thủ tục rút gọn: Trong thời hiệu pháp luật quy định, Quốc hội xem xét thông qua dự án, dự thảo văn bản tại một kỳ họp; Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ xem xét thông qua dự án, dự thảo tại một phiên họp.

 

Về hiệu lực của Văn bản Quy phạm pháp luật, nguyên tắc áp dụng và công khai VBQPPL

Theo quy định tại Điều 78 Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 thì:

- Thời điểm có hiệu lực của VBQPPL được qui định bằng văn bản, nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

- Trường hợp văn bản qui định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp, văn bản ban hành để kịp thời đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai, dịch bệnh thì có thể có hiệu lực từ ngày công bố hoặc ký ban hành, nhưng phải được đăng ngay trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng công báo nước cộng hòa XHCN Việt Nam, chậm nhất sau 02 ngày làm việc kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

VBQPPL phải được đăng công báo, nếu không đăng công báo thì VBQPPL không có hiệu lực thi hành, trừ trường hợp văn bản đó có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

Trong thời hiệu chậm nhất là 02 ngày làm việc, kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, cơ quan ban hành VBQPPL phải gửi văn bản đến cơ quan công báo để đăng công bố, cơ quan công báo có trách nhiệm đăng toàn văn VBQPPL trên công báo, chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản. VBQPPL đăng trên công báo là văn bản chính thức và có giá trị như văn bản gốc.

- Việc đăng tải và đưa tin VBQPPL: VBQPPL phải được đăng tải toàn văn trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản, chậm nhất là 02 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành, và phải đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng, trừ văn bản có nội dung thuộc bí mật nhà nước.

 

Những điểm mới của Luật Ban hành VBQPPL có hiệu lực từ 01/01/2009 đã cơ bản khắc phục được những bất cập của Luật Ban hành VBQPPL trước đây, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị và một số cam kết của nước ta khi gia nhập WTO và nâng cao hiệu quả công tác xây dựng, ban hành VBQPL, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.

Liên kết
Link tới Tài khoản các cửa khẩu làm thủ tục XNK của ngành hải quan
Đường dây nóng chống gian lận thương mại
Liên kết tới Thống kê Hải quan
Bao Hai quan dien tu (Phien ban thu nghiem)
Nhận dạng động vật hoang dã
Đường dây nóng về quản lý rủi ro
Truy cập mail ngành Hải quan
Tài liệu đối thoại doanh nghiệp Hàn Quốc 2013
Hỏi đáp về Nghị định 83/2013/NĐ-CP
Trang chủ  |  Giới thiệu  |  Trợ giúp  |  Sitemap  |  Liên hệ  |  ENGLISH
©Bản quyền 2005-2013 Tổng cục Hải quan (General Department of Vietnam Customs)
Địa chỉ: Lô E3 - Đường Dương Đình Nghệ, Phường Yên Hòa, Quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội   -   Điện thoại: (+844) 39440833 (ext: 8623)   -   Email: webmaster@customs.gov.vn
Số phép số 97/GP-BC do Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Thông tin & Truyền thông) cấp ngày 13/03/2007
Ghi chú: phải ghi rõ "Nguồn: Tổng cục Hải quan" và liên kết đến nội dung gốc khi phát hành lại thông tin từ Cổng thông tin Điện tử Hải quan