Cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ đang dần được cân bằng

Thống kê Hải quan  1/03/2013 4:00 PM

Trong năm 2012 nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam có xuất xứ từ Ấn Độ là 2,16 tỷ USD và xuất khẩu của cả nước vào thị trường này là 1,78 tỷ USD. Kết quả là thâm hụt thương mại hàng hóa của Việt Nam từ thị trường này đã được giảm xuống còn 378 triệu USD, chưa bằng ½ mức thâm hụt thương mại của năm 2011. Với xu hướng này, cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ đang được kỳ vọng sẽ khá cân bằng trong năm 2013.

Số liệu thống kê cho thấy, trong nhiều năm qua, Ấn Độ là một trong 10 đối tác lớn nhất cung cấp hàng hóa cho Việt Nam, trị giá hàng nhập khẩu từ Ấn Độ thường chiếm khoảng 2% tổng trị giá hàng hóa nhập khẩu của cả nước.  Trong khi xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này từ những năm 2009 trở về trước còn rất khiêm tốn. Kết quả là nhập siêu từ Ấn Độ trong thời kỳ này luôn ở mức rất cao, liên tiếp ở mức trên 1 tỷ USD trong 3 năm từ 2007-2009.  

Bảng 1: Thống kê xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa giữa

Việt Nam và Ấn Độ giai đoạn 2003-2012

Năm

Nhập khẩu

Xuất khẩu

Cán cân thương mại

Kim ngạch
(triệu USD)

Tỷ trọng
(%)

Kim ngạch
(triệu USD)

Tỷ trọng (%)

Trị giá
(triệu USD)

tăng/giảm
so với năm trước(%)

2003

457

1,81

32

0,16

-425

-

2004

594

1,86

77

0,29

-516

21,5

2005

598

1,62

98

0,30

-501

-3,0

2006

880

1,96

138

0,35

-742

48,3

2007

1.357

2,16

180

0,37

-1.177

58,6

2008

2.094

2,59

389

0,62

-1.705

44,9

2009

1.635

2,34

420

0,73

-1.215

-28,7

2010

1.762

2,08

992

1,37

-770

-36,6

2011

2.346

2,20

1.554

1,60

-792

2,9

2012

2.160

1,90

1.782

1,56

-378

-52,3

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Ghi chú:

-  Từ năm 2007 trở về trước, nhập khẩu được thống kê theo nước gửi hàng, từ năm 2008 đến nay nhập khẩu được thống kê theo nước xuất xứ;

- Tỷ trọng: là tỷ lệ % của kim ngạch nhập khẩuxuất khẩu hàng hóa từ/sang Ấn Độ so với tổng kim ngạch nhập khẩu/xuất khẩu hàng hóa của cả nước

Số liệu thống kê cũng cho thấy, thâm hụt thương mại của Việt Nam từ Ấn Độ đã giảm xuống đáng kể trong những năm gần đây là nhờ xuất khẩu tăng trưởng rất mạnh (năm 2010 và 2011 tăng lần lượt là  236%, 157%). Trong đó, hai mặt hàng chính xuất khẩu sang thị trường này tăng mạnh gồm:  điện thoại các loại và linh kiện; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện. Tổng kim ngạch của hai nhóm hàng này chiếm lần lượt là 30% và 35% trong tổng trị giá hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ trong năm 2011 và 2012.

Biểu đồ: Các mặt hàng xuất khẩu chính sang Ấn Độ năm 2011 và 2012

            Nguồn: Tổng cục Hải quan

Cùng chung xu hướng với tình hình nhập khẩu của cả nước, nhập khẩu hàng hóa từ Ấn Độ giảm 7,9%  trong năm 2012, đạt trị giá là 2,16 tỷ USD. Trong đó, Ấn Độ dẫn đầu về xuất khẩu Ngô vào Việt Nam, đứng thứ 2 về xuất khẩu dược phẩm,  nguyên phụ liệu dược phẩm và đứng thứ 3 về xuất khẩu bông, nguyên phụ liệu dệt may.   

Bảng 2: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam

từ Ấn Độ năm 2012 so với năm 2011

Tên hàng

Năm 2011
(triệu USD)

Năm 2012
(triệu USD)

Tăng/ giảm
(%)

Ngô

166

330

98,4

Thức ăn gia súc và nguyên liệu

529

285

-46,2

Dược phẩm

219

236

7,8

Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng

199

120

-39,4

Chất dẻo nguyên liệu

112

111

-1,2

Bông

123

111

-10,0

Sắt thép

65

81

23,9

Nguyên phụ liệu dệt may

69

79

14,7

Hóa chất

59

73

22,9

Kim loại thường khác

43

63

44,4

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Nhóm hàng thức ăn gia súc năm 2011 dẫn đầu về nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam nhưng lại giảm mạnh trong năm 2012, chủ yếu do giảm nhập khẩu khô dầu đậu tương. Ngược lại nhập khẩu ngô hạt từ thị trường này lại tăng mạnh và vươn lên dẫn đầu trong năm 2012.

Số liệu thống kê hải quan mới nhất cũng cho thấy trong tháng đầu tiên của năm 2013, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam và Ấn Độ đạt gần 420 triệu USD, tăng 114,5 % so với tháng 12/2012, trong đó, nhập khẩu đạt 246 triệu USD, tăng 14,5% và xuất khẩu là 173 triệu USD, tăng 14,4%. Cán cân thương mại hàng hóa với Ấn Độ vì vậy thâm hụt hơn 73 triệu USD, tăng 14,9% so với tháng 12/2012.

Nguồn: www.wto.org