Kim ngạch thương mại hàng hóa hai chiều giữa Việt Nam và Nga tăng trưởng trên 30%/năm trong giai đoạn 2006-2009

Nguyễn Vũ  19/03/2010 4:00 PM

Số liệu Thống kê Hải quan Việt Nam cho thấy trong năm 2006 kim ngạch buôn bán hàng hóa hai chiều Việt Nam- Nga chỉ đạt 869 triệu USD thì đến năm 2007 con số này đã vượt 1 tỷ USD, tăng 16,2% so với năm 2006 và năm 2008 đạt 1,64 tỷ USD, tăng 62,4% so với một năm trước đó.

Biểu đồ: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam- Nga giai đoạn năm 2006- 2009 và ước năm 2010

(Ghi chú: Thực hiện theo Quyết định số 111/2008/QĐ-TTg ngày 15/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ, từ ngày 01/01/2009 nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam được thống kê và công bố theo nước xuất xứ.)

Trong năm 2009, một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang thị trường Nga gặp nhiều khó khăn, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này chỉ đạt 415 triệu USD, giảm 38,3% so với năm 2008. Mặc dù vậy, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước cả năm vẫn đạt 1,83 tỷ USD, tăng 11,5% so với năm 2008 và chiếm 1,4% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam.

Thống kê trong Bảng 1 dưới cho thấy trong năm 2009 Nga là thị trường xuất khẩu hàng hóa lớn thứ 24 của Việt Nam trong khi đó ở chiều ngược lại Nga là nguồn hàng nhập khẩu lớn thứ 12 của các doanh nghiệp Việt Nam. Như vậy, tính tổng thể trong năm 2009 Nga là đối tác thương mại lớn thứ 16 của Việt Nam.

 

Bảng 1: Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

giữa Việt Nam- Nga trong năm 2009

 

Chỉ tiêu

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Xuất nhập khẩu

Tỷ trọng so với tổng kim ngạch của Việt Nam (%)

0,7

2,0

1,4

Tỷ trọng so với tổng kim ngạch của Nga (%)

(Tính toán trên nguồn số liệu của Hải quan Nga)

0,2

0,5

0,4

Thứ hạng trong tổng số các thị trường của Việt Nam

24

12

16

Thứ hạng trong tổng số các thị trường châu Âu của Việt Nam

9

2

3

Thứ hạng trong tổng số các thị trường APEC của Việt Nam

24

12

16

Tính đến hết tháng 02/2010, trị giá hàng hoá trao đổi giữa hai nước là 251 triệu USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2009, chiếm 1,3% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang Nga đạt 74,9 triệu USD, tăng 22,4% và chỉ chiếm 0,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam; kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường Nga là 176 triệu USD, tăng 22,5% và chiếm 1,6% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước.

 

Bảng 2: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại

giữa Việt Nam- Nga giai đoạn 2006- 2009

 

Năm

Xuất khẩu

Nhập khẩu

Cán cân thương mại

(Xuất khẩu-Nhập khẩu)

Kim ngạch
(Triệu USD)

So với
 năm trước (%)

Kim ngạch
 (Triệu USD)

So với
năm trước (%)

Kim ngạch
 (Triệu USD)

So với
năm trước (%)

2006

413

-

456

-

-43

-

2007

458

10,9

552

21,2

-94

120,2

2008

672

46,6

970

75,6

-298

217,6

2009

415

-38,3

1.415

45,9

-1.000

236,0

Nếu duy trì đà tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu bình quân của giai đoạn 2006- 2009 (hơn 30%/năm) thì kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga trong năm 2010 ước đạt 2,5 tỷ USD; trong đó kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 650 triệu USD và kim ngạch nhập khẩu ước đạt 1,85 tỷ USD.

Việt Nam luôn trong tình trạng thâm hụt thương mại với thị trường Nga và độ mất cân bằng cán cân thương mại ngày càng lớn, nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu tăng nhanh hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu. Tính chung cả giai đoạn 2006- 2009, tốc độ tăng kim ngạch nhập khẩu bình quân đạt 47,6%/năm, trong khi xuất khẩu chỉ đạt 6,4%/ năm. Năm 2006, Việt Nam nhập siêu từ Nga là 42,6 triệu USD thì đến năm 2009 nhập siêu gần 1 tỷ USD và trong 2 tháng đầu năm 2010 thì con số này là 101 triệu USD. Như vậy, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, ước tính đến hết năm 2010, nhập siêu của Việt Nam từ Nga có thể lên đến con số 1,2 tỷ USD, tăng 20,1% so với năm trước.

Trong những năm qua, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Nga các mặt hàng công nghiệp nhẹ và tiêu dùng, chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này, cụ thể như: hàng thủy sản, hàng dệt may, giầy dép các loại, hàng rau quả, gạo, cà phê, chè, cao su, hạt điều và hạt tiêu.

 

Bảng 3: Kim ngạch xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính

của Việt Nam sang Nga năm 2009

 

Stt

Mặt hàng

Trị giá (USD)

Tỷ trọng (%)

Trong tổng
kim ngạch xuất khẩu
sang Nga

Trong tổng kim ngạch từng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam

1

Hàng thủy sản

87.882.902

21,2

2,1

2

Sản phẩm dệt, may

56.045.993

13,5

0,6

3

Gạo

37.089.136

8,9

1,4

4

Hàng rau quả

34.228.256

8,2

7,8

5

Giày dép các loại

29.431.711

7,1

0,7

6

Chè

27.355.762

6,6

15,2

7

Cà phê

22.003.706

5,3

1,3

8

Cao su

20.830.277

5,0

1,7

9

Hạt điều

19.787.710

4,8

2,3

10

Hạt tiêu

12.207.696

2,9

3,5

11

Bánh, kẹo & sản phẩm từ ngũ cốc

11.641.344

2,8

4,2

12

Túi xách, ví, va li, mũ & ôdù

6.826.848

1,6

0,9

13

Sản phẩm mây, tre, cói & thảm

4.513.080

1,1

2,5

14

Máy móc thiết bị, dụng cụ &  phụ tùng

3.611.338

0,9

0,2

15

Sản phẩm chất dẻo

3.347.718

0,8

0,4

16

Hàng hoá khác

38.088.640

9,2

0,1

Tổng cộng

414.892.117

100,0

0,7

 

Chiếm tỷ trọng trên 75% kim ngạch nhập khẩu từ Nga, chủ yếu là những mặt hàng nhập khẩu thiết yếu, phục vụ sản xuất trong nước như: các sản phẩm từ dầu mỏ, phôi thép, sắt thép thành phẩm và phân bón.

 

Bảng 4: Kim ngạch nhập khẩu một số nhóm hàng chính

của Việt Nam từ Nga năm 2009

 

Stt

Mặt hàng

Trị giá (USD)

Tỷ trọng (%)

Trong tổng
kim ngạch nhập khẩu
từ Nga

Trong tổng kim ngạch từng mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam

1

Sắt thép các loại khác

442.236.293

31,3

10,2

2

Phôi thép

336.129.516

23,8

32,6

3

Dầu DO

290.789.566

20,6

8,9

4

Xăng

20.304.858

1,4

1,0

5

Phân Urê

39.636.729

2,8

9,5

6

Phân Kali

32.815.261

2,3

11,8

7

Phân SA

20.682.787

1,5

13,3

8

Phân DAP

8.345.698

0,6

2,2

9

Phân NPK

7.967.244

0,6

6,0

10

Sản phẩm từ sắt thép

25.359.140

1,8

1,9

11

Máy móc thiết bị, dụng cụ & ptùng

24.087.439

1,7

0,2

12

Cao su các loại

20.877.919

1,5

5,1

13

Nhiên liệu bay

20.304.858

1,4

5,4

14

Giấy các loại

17.482.971

1,2

2,3

15

Lúa mỳ

9.628.790

0,7

2,8

16

Hàng hoá khác

107.712.726

7,6

0,3

Tổng cộng

1.414.733.006

100,0

2,0