Thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan - xu hướng bảo hộ mới trong thương mại quốc tế

13/05/2005 10:40 PM

Việt Nam đang tích cực đàm phán để gia nhập WTO, trong khi đó khả năng cạnh tranh của hầu hết các doanh nghiệp còn rất thấp,

cần phải tận dụng điều kiện cho phép (đối với thành viên mới có nền kinh tế đang phát triển ở trình độ thấp), nghiên cứu áp dụng các biện pháp bảo hộ mới trong khuôn khổ cho phép của WTO, đó là thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan, trong đó có thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ được các quốc gia sử dụng phổ biến thời gian gần đây. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến một số quy định của WTO và khả năng thuế quan hoá các biện pháp phi thuế quan ở Việt Nam.

Vieäc Hoa Kyø aùp duïng thueá choáng phaù giaù ñaõ gaây nhieàu khoù khaên cho ngaønh thuyû saûn nöôùc ta            AÛnh: xuaân tröôøng

1- Về thuế chống bán phá giá

Theo lập luận, hàng hoá của một nước nào đó được bán phá giá vào thị trường một nước khác sẽ “bóp méo” cạnh tranh và làm cho hoạt động thương mại không công bằng, vì vậy cho phép các bạn hàng khác thực hiện các biện pháp trừng phạt đối thủ đã thực hiện bán phá giá trên thị trường của mình. Các biện pháp có thể áp dụng như cấm hạn ngạch, thuế quan; trong đó biện pháp thường được các nước sử dụng là tăng thuế quan nhập khẩu đối với những hàng hoá đã xác định là bán phá giá. Mức thuế quan được xác định dựa trên kết quả xác định mức phá giá, gọi là thuế chống bán phá giá.

Thuế chống bán phá giá là biện pháp hiệu quả được các nước sử dụng để đánh vào các mặt hàng nhập khẩu xác định là đã bán phá giá nhằm triệt tiêu những tác động bất lợi với ngành sản xuất trong nước do hàng nhập khẩu đem lại. Thông thường, hàng hoá nào bị xác định là bán phá giá, sẽ bị đánh thuế nhập khẩu sao cho không còn khả năng cạnh tranh trên thị trường. Ví dụ, trước kia cá tra, cá basa của Việt Nam bán với giá 1,5 USD/kg (cá cùng loại của doanh nghiệp Hoa Kỳ bán với mức 2,3 USD/kg), khi bị phía Hoa Kỳ áp dụng mức thuế quan nhập khẩu là 64,88%, nếu các yếu tố khác không thay đổi thì cá của Việt Nam phải bán với mức giá 2,5 USD/kg, do đó không còn khả năng cạnh tranh trên thị trường Hoa Kỳ.

Những vấp váp trong thời gian gần đây qua vụ kiện cá tra, cá basa, hay vụ kiện tôm của Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ, cùng một số vụ kiện về bán phá giá của hàng Việt Nam trên một số thị trường đã cảnh tỉnh cho chúng ta không chỉ ở khía cạnh đưa hàng hoá ra thị trường quốc tế, mà còn ở cả khía cạnh bảo vệ thị trường nội địa. Bởi vì, nếu xem xét theo nguyên tắc trên thì chắc chắn đã có nhiều bạn hàng (như Trung Quốc) đã từng bán phá giá trên thị trường Việt Nam, nhưng họ không hề bị phía Việt Nam phản ứng gì, do đó họ lấn át thị trường nội địa của ta một cách ngon lành, cũng có nghĩa là ta chưa bảo vệ được các doanh nghiệp trong nước ở chính thị trường của mình.

Muốn thực hiện biện pháp này không hề đơn giản, bởi vì trước hết, Nhà nước ta phải có hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ, đồng bộ, có tính pháp lý và tính khả thi cao, phải phù hợp với các chuẩn mực quốc tế (hiện Việt Nam mới có Pháp lệnh Chống phá giá). Các doanh nghiệp Việt Nam phải liên kết thông qua Hiệp hội ngành nghề, quan trọng hơn cả là cần có đội ngũ cán bộ am hiểu luật pháp và hiểu cả “luật chơi” trong “sân chơi” của WTO. Hi vọng khi gia nhập WTO, thông qua “Cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại” của WTO, Việt Nam sẽ được xem xét các mối quan hệ thương mại một cách khách quan hơn, không còn bị xử ép như trong các vụ kiện gần đây; đồng thời có thể áp dụng các biện pháp bảo vệ thị trường nội địa một cách hữu hiệu hơn.

2- Về thuế chống trợ cấp 

Theo lập luận, hàng hoá của một nước nếu được Chính phủ thực hiện các biện pháp trợ cấp trong quá trình sản xuất kinh doanh, khi nhập khẩu vào thị trường nước khác đã tạo ra một sự không công bằng trong cạnh tranh với hàng hoá cùng loại được bán trên cùng một thị trường. Vì vậy, WTO cho phép các nước được thực hiện các biện pháp trừng phạt khi hàng nhập khẩu do có trợ cấp đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với sản xuất của nước nhập khẩu. Các biện pháp áp dụng chống trợ cấp tương tự chống bán phá giá, nước nhập khẩu cũng thường sử dụng biện pháp đánh thuế chống trợ cấp, còn gọi là “thuế đối kháng”. Nếu nước nhập khẩu chứng minh là lượng hàng hoá vào thị trường của họ tăng nhanh do được trợ cấp từ nước xuất khẩu, thì họ sẽ áp đặt một mức thuế đủ để làm mất sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu, giúp loại bỏ đối thủ cạnh tranh quá mạnh đối với các nhà sản xuất kinh doanh trong nước.

Thuế chống trợ cấp được áp dụng sau quá trình điều tra làm rõ cả nhân tố trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, để chứng minh hàng nhập khẩu đã được hưởng trợ cấp từ chính phủ nước xuất khẩu thì không hề đơn giản, nhất là hiện nay trợ cấp được thực hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, có hình thức trợ cấp được gọi là trợ cấp gián tiếp (trợ cấp “đèn xanh”) không bị áp dụng thuế đối kháng; chỉ được áp dụng thuế đối kháng với hình thức trợ cấp trực tiếp (trợ cấp “đèn đỏ”) hoặc biến tướng của trợ cấp trực tiếp (trợ cấp “đèn vàng”). Việc tìm ra bằng chứng trợ cấp rất phức tạp, vì vậy muốn thực hiện biện pháp đánh thuế chống trợ cấp để bảo vệ thị trường nội địa, cần ban hành Luật chống trợ cấp, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên sâu có kiến thức kinh tế vững vàng và có khả năng nắm bắt thông tin đầy đủ từ phía các đối tác.

Để tăng năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu trên thị trường quốc tế, Việt Nam cũng cần thực hiện nhiều chính sách ưu đãi đối với hàng hoá sản xuất trong nước, nhưng chỉ nên áp dụng các biện pháp hỗ trợ gián tiếp (trợ cấp “đèn xanh”), tránh trợ cấp trực tiếp hoặc biến tướng của trợ cấp trực tiếp (trợ cấp “đèn đỏ” hoặc trợ cấp “đèn vàng”) - loại trợ cấp phía nhập khẩu được quyền áp dụng thuế đối kháng, hạn chế những tổn thất không đáng có cho một ngành hàng nào đó.

3- Về thuế tự vệ thương mại

Trong quan hệ thương mại, WTO chấp nhận các nước được áp dụng biện pháp bảo vệ cho một ngành hàng nào đó khi hàng nhập khẩu gia tăng nhanh chóng vào thị trường đã gây thiệt hại nghiêm trọng và có thể dẫn tới nguy cơ phá sản cho lĩnh vực sản xuất trong nước chưa đủ sức cạnh tranh (ngành non trẻ hoặc ngành quá già cỗi cần có thời gian đầu tư nâng cấp). Biện pháp này được coi là dễ áp dụng nhất, vì chỉ cần hai yếu tố cơ bản là “tăng nhanh nhập khẩu” và “thiệt hại đối với sản xuất trong nước”. Hai yếu tố này lại có thể chứng minh ngay tại nước nhập khẩu nên số liệu dễ tìm. Tuy nhiên, biện pháp tự vệ không cho phép kéo dài, mà chỉ được áp dụng trong một khoảng thời gian nhất định đủ để ngành đó có thêm thời gian nâng cao sức cạnh tranh.

Biện pháp tự vệ thường được các nước phát triển áp dụng trong quan hệ thương mại với những nước tương đương về tiềm lực. Ví dụ, năm 2003 với lý do cần bảo vệ ngành thép đang bị già cỗi, Hoa Kỳ tăng thuế nhập khẩu thép từ Nga và EU. Gần đây nhất, (tháng 4-2005) với lý do bảo vệ cho ngành dệt may, EU tuyên bố áp dụng biện pháp tự vệ với hàng dệt may Trung Quốc vào EU trong thời gian 150 ngày v.v...

Biện pháp tự vệ có thể áp dụng dưới nhiều hình thức, như: hạn ngạch, thuế nhập khẩu phụ thu…, nhưng biện pháp thường dùng vẫn là thuế nhập khẩu. Mức độ áp dụng tự vệ tương đối tự do, nên tác động hạn chế nhập khẩu thường cao hơn thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, khi áp dụng biện pháp tự vệ sẽ tác động đến lợi ích nước xuất khẩu không phải vì lý do cạnh tranh không công bằng như hai biện pháp trên mà là do năng lực cạnh tranh quá yếu của nước sở tại, nên thường vấp phải những phản ứng từ phía nước xuất khẩu. Vì vậy, các nước tiến hành biện pháp tự vệ thường phải có cách đền bù cho các nước bị ảnh hưởng bằng cách đưa ra nhượng bộ thương mại ở lĩnh vực khác và phải cân nhắc kỹ trước khi áp dụng.

Gia nhập WTO trong điều kiện của nước đang phát triển ở trình độ thấp, các doanh nghiệp sản xuất những mặt hàng đang là lợi thế của Việt Nam có rất nhiều cơ hội phát triển và thâm nhập thị trường quốc tế, nhưng với những mặt hàng năng lực cạnh tranh yếu cũng chịu nhiều áp lực cạnh tranh trên thị trường nội địa. Chúng tôi cho rằng Chính phủ cần tận dụng những quy định cho phép trong WTO, nhất là cho phép bảo hộ thời gian đầu gia nhập với nước đang phát triển trình độ thấp, để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước: đối với ngành mạnh sẽ được an toàn khi ra thị trường quốc tế; đối với ngành yếu trước mắt phải đứng vững trên thị trường nội địa.

TS. Vũ Thị Bạch Tuyết (Học viện Tài chính)